Tôn Thất Thuyết
Tác giả: nhiều tác giả
Tướng quân Tôn Thất Thuyết
Nước ta quan tướng anh hùng,
Bá quan văn võ cũng không ai tày.
Quan tướng đây là Tôn Thất Thuyết. Nhân dân đă ca ngợi ông qua những lời trên, trích trong Vè thất thủ kinh đô; lời vè không quá xa sự thực. Tôn Thất Thuyết đă nổi tiếng v́ có nhiều vơ công. Chính ông đă giúp Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc trong trận thắng quân Pháp ở Cầu Giấy, diệt được Francis Garnier (1873). Năm 1875, ông lại thắng một trận lớn ở Sơn Tây, bắt sống tướng giặc Cờ Vàng là Hoàng Sùng Anh.
Từ 1881, Tôn Thất Thuyết về Huế, làm Thượng thư bộ binh, rồi làm phụ chính đại thần sau khi vua Tự Đức mất. Lúc này, thực dân Pháp đă chiếm trọn Nam Kỳ và đang âm mưu thôn tính cả nước. Triều đ́nh nhiều người chủ ḥa, đầu hàng. Tôn Thất Thuyết kiên tŕ chủ chiến. Ông chuẩn bị lực lượng vật chất và tinh thần để chống Pháp, tỏ thái độ gay gắt với bọn chỉ huy Pháp ở Huế khi thấy chủ quyền Nhà nước ḿnh bị vi phạm. Ngay từ Paris, Bộ trưởng ngoại giao Pháp cũng điện sang, chủ trương phải loại trừ Tôn Thất Thuyết.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tháng 7-1885, toàn quyền De Courcy vào Huế, chủ trương ổn định t́nh h́nh và bắt Tôn Thất Thuyết. Ông Tôn đă ra tay trước. Đêm 4-7-1885, quân Việt Nam tấn công đánh úp doanh trại Pháp. Việc tổ chức rất chu đáo, nhưng vũ khí quá thô sơ nên không thành công. Tôn Thất Thuyết phải đem vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, rồi về ở miền Hương Khê (Hà Tĩnh) phát động phong trào Cần Vương chống Pháp. Văn thân các tỉnh Bắc Kỳ, Trung Kỳ đă hưởng ứng chiếu nhà vua. Từ đại bản doanh, Tôn Thất Thuyết đă là linh hồn, là vị chỉ huy của cả phong trào ấy. Những người con của ông: Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp đều là tướng bảo vệ vua Hàm Nghi và đă hy sinh khi chống lại bọn phản bội.
Phong trào Cần Vương phát động được ít lâu th́ Tôn Thất Thuyết ra bắc rồi sang Trung Quốc với chủ trương yêu cầu nhà Thanh giúp Việt Nam đánh Pháp. Việc làm này không đi đến kết quả, ông đành t́m các bạn lưu vong như Nguyễn Thiện Thuật, cố gắng liên lạc với phong trào trong nước, có lúc đă dự định tổ chức về tấn công vào tỉnh Cao Bằng, nhưng đều không thực hiện được. Ông đau khổ, tuyệt vọng, sống một ḿnh trong túp lều tranh trên một ngọn đồi ở Long Châu. Suốt ngày, ông như người loạn trí, hết khóc lại cười, đập phá lung tung, vung gươm chém vào đá để trút nỗi căm hờn. Người địa phương đă gọi ông là Đả thạch ông (Ông già chém đá).
Tôn Thất Thuyết là một võ tướng. Nhưng ông cũng viết nhiều câu đối, bài thơ hào hùng sảng khoái. Trong gia đ́nh, ông là người con chí hiếu. Đối với đất nước, ông tiêu biểu cho ư chí chiến đấu ngoan cường. Đến kẻ địch cũng phải thừa nhận ḷng hy sinh cao cả và tinh thần bất khuất của ông.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012
Tổng Đốc Hoàng Diệu 3_đọc truyện sex hay việt
Trang 3 trong tổng số 3
Phần 2
Một bài vận văn rất có giá trị về lịch sử:
Hà thành Chánh khí ca
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Bài ca nguyên là truyền miệng, nên giờ đây ‘tam sao thất bổn ” không ít. Không có bút tích nào để đối chiếu, nên người soạn đành dựa vào 2 bản hiện đang có & tương đối khá hoàn chỉnh, đó là:
1/Bản do Huỳnh Lý soạn, nhà xb Văn Hóa Hà Nội, 1958.
2/ Bản do Phan Khôi ( cháu ngoại của Tổng đốc Hoàng Diệu) sưu tầm, đăng trên Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 777 ra ngày 4.10.1928 ( bản này bị tòa kiểm duyệt thời bấy giờ cắt mất mấy câu)
Rồi qua đấy, tôi so sánh, bổ khuyết, châm chước; để tạm giới thiệu với bạn đọc một áng hùng văn quí này.
Khi có thời giờ hơn, tôi sẽ cân nhắc & chú thích kỹ càng lại.
Xin bạn đọc bỏ qua tính chủ quan của tôi.
Phần giới thiệu in nghiêng này của Phan Khôi :
Trước khi Văn Thiên Tường chết theo nhà Tống, có đặt một bài ca gọi là Chánh khí ca, kể sự mình giúp vua nhà Tống không thành công và phải chết, chớ không chịu hàng nhà Nguyên. Hà thành Chánh khí ca là do nghĩa đó và nói việc xảy ra ở Hà Nội.
Bài nầy, theo người ta nói, của ông Ba Giai là một nhà văn sĩ ở Hà Nội lúc bấy giờ làm ra.
Một bài văn đã hay lại có quan hệ nhiều về lịch sử, mà xưa nay chưa được in ra, thì chắc truyền không được rộng, và có ngày sẽ mất đi, là ngày nếu người ta quên nó ráo.
Vì nghĩ như vậy chúng tôi mới đem đăng báo để truyền lại cho đời sau một cái sử liệu.
Hà Thành Chánh khí ca
Một vừng chánh khí lưu hình,
Rộng trong trời đất : nhựt, tinh, sơn, hà,
Hạo nhiên ở tại lòng ta,
Tấc vuông son sắt hiện ra khi cùng. (1)
Nên thua theo vận truân phong,
Ngàn thu rạng tiếng anh hùng sử xanh.
Có quan tổng đốc Hà - Ninh
Hiệu là Quang Viễn, trung trinh ai bằng? (2)
Lâm nguy, lý hiểm (3) đã từng,
Vâng ra trọng trấn mới chừng ba năm.
Thôn Hồ (4) dạ vẫn nhăm nhăm,
Ngoài tuy giao thiệp, trong căm những là...
Vừa năm Nhâm Ngọ, tháng ba,
Rạng ngày mồng tám, mới qua giờ thìn,
Biết cơ trước đã giữ gìn,
Hơn trăm võ sĩ, vài nghìn tinh binh.
Tiên nghiêm (5) sai đóng trên thành,
Thệ sư (6) rót chén rượu quỳnh đầy vơi.
Văn quan võ tướng nghe lời,
Hầm hầm xin quyết một bài tận trung.
Ra uy xuống lịnh vừa xong,
Bỗng nghe ngoài đã đùng đùng súng ran.
Tiêm cừu (7) nổi giận xung quan (8)
Quyết rằng chẳng để chi đàn chó dê
Lửa phun súng phát bốn bề,
Khiến loài bạch quỉ hồn lìa phách xiêu
Bắn ra nó chết cũng nhiều
Phố phường trông thấy, tiếng reo ầm ầm.
Quan quân đắc chí bình tâm,
Cửa Đông, cửa Bắc vẫn cầm vững binh.
Chém cha cái lũ hôi tanh
Phen này quét sạch sành sanh mới là!
Không ngờ thất ý tại ta,
Rõ ràng thắng trận, thế mà thua cơ!
Nội công rắp tự bao giờ,
Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngã theo
Quan quân sợ chết thảy đều,
Cửa Tây, Bạch qủi đánh liều trèo lên.
Nào ai sức mạnh gan liền?
Nào ai cầm vững cho bền ba quân?
Nào ai có chí kinh luân?
Nào ai nghĩ đến thánh quân trên đầu?
Một cơn gió thảm mưa sầu,
Đốt nung gan sắt, giãi dầu lòng son,
Chữ trung còn chút con con,
Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây.
Trời cao biển rộng đất dày,
Non Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi!
Thương thay trong buổi gian nguy,
Lòng riêng ai chẳng thương vì người trung!
Rủ nhau tiền góp của chung,
Rước người ra táng ở trong học đường.
Đau đớn nhẽ, ngẩn ngơ dường!
Tả tơi thành quách, tồi tàn cỏ hoa!
Kể từ năm Dậu bao xa, (9)
Đến nay tính đốt phỏng đà mười niên.
Long thành thất thủ hai phen,
Kho tàng hết sạch, quân quyền dời tan.
Đổi thay trải mấy ông quan,
Quyên sanh tựu nghĩa, có gan mấy người?
Trước quan Võ hiển khâm sai (10)
Sau, quan Tổng đốc một vài mà thôi.
Ngoài ra võ giáp văn khôi,
Quan, bào, trâm, hốt nhác coi, ngỡ là...
Khi bình làm hại dân ta,
Túi tham vơ nhặt chẳng tha miếng gì.
Đến khi hoạn nạn gian nguy,
Mắt trông ngơ ngác, chơn đi gập ghình.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Võ như đề đốc Lê Trinh, (11)
Cùng là chánh phó lãnh binh một đoàn,
Đương khi giao chiến ngang tàng,
Thấy quân hầu đổ vội vàng chạy ngay.
Nghĩ xem thật cũng ghê thay,
Bảo thân chước ấy ai bày sẵn cho?
Thế mà nghe nói mơ hồ
Rằng: quan đề đốc xuống hồ cửa tây;
Kẻ rằng: Treo ở cành cây
Người rằng: hẳn xuống giếng nầy không sai.
Thăm tìm ngày một ngày hai,
Định rằng hiệp táng cùng nơi học đường.
Hỏi ra sau mới tỏ tường,
Cũng loài uý tử, cũng phường tham sanh.
Phép công nên bắt gia hình,
Rồi ra nặng chữ nhơn tình lại thôi.
Văn như Tuần phủ nực cười,
Bình Chi là hiệu, năm mươi tuổi già (12)
Biết bao cơm áo nước nhà?
Nhắm trong sĩ tịch cũng là đại viên.
Chén son chưa cạn lời nguyền,
Nỡ nào bỗng chốc quên liền ngay đi?
Lại còn lẩn khuất làm chi?
Hay là tham tiếc mùi gì ở đây?
Hay là còn chước bình Tây,
Chực làm nội ứng, đợi ngày viện binh?
Hay là tiếc gái xuân xanh?
Tìm nơi kiếm chốn gieo mình trú chân ?
Hay là còn chút từ thân,
Rắp toan tịch cốc mấy lần lại thôi!
Sao không sợ tiếng với đời?
Sao không thẹn với người tử trung?
Kìa Tôn Thất Bá niết công, (13)
Kim chi ngọc diệp, vốn dòng tôn nhân,
Đã quốc tộc, lại vương thần,
Cũng nên hết sức kinh luân mới là...
Nước non vẫn nước non nhà,
Nỡ sao bán rẻ một tòa Thăng Long?
Thề xưa liệu đã chẳng xong,
Lại còn mở mặt trong vòng lưỡng gian
Tư giao rắp những mưu gian,
Thừa cơ xin chữ hội thương ra ngoài
Ấy mới khôn, ấy mới tài,
Lẩn đi tránh tiếng, giục người nói quanh.
Dâng công quyền nhận tỉnh thành,
Xui người đổ tiếng một mình quan trên.
Tội danh thiệt đã quả nhiên,
Xin đem giao xuống cửu nguyên chế đài (14)
Thung dung kể đến phiên đài (15)
Xỉ ban(16) cũng đã tuổi ngoài sáu mươi.
Thác trong thôi cũng nên đời.
Sống thừa chi để kẻ cười, người chê!
Nhĩ Hà, Tản lĩnh đi về,
Giang sơn tuyết chở, sương che cũng liều!
Còn như ty thuộc hạ liêu,
Kẻ công người quả còn nhiều chan chan,
Biết đâu cho khắp mà bàn,
Sau nầy sẽ có sử quan phẩm bình,
Trước rèm gió mát trăng thanh
Thừa lương nhân chốn nhàn đình thong dong.
Xa trông chót vót Bình phong (17)
Chúc mừng vạn thọ thánh cung lâu dài!
Rồi khi cá nước duyên hài,
Ra tay khang tế, giở tài kinh luân.
Nghiêu Thuấn quân, Nghiêu Thuấn dân,
Bát thiên thu, bát thiên xuân thái hòa!
Bây giờ ta gắn với ta,
Túy tinh khiển hứng, ngâm nga tiêu sầu.
Ở đời văn võ công hầu,
Càng nghe câu chuyện càng sầu bên tai!
Diễn ca Chánh khí một bài,
Để cho thiên hạ người người khuyên răn.
Chú thích :
(1) Mấy câu này dựa theo ý mở đầu bài Chánh khí ca của Văn Thiên Tường.
(2) Tên hiệu của Hoàng Diệu.
(3) Lý hiểm : từng trải sự nguy hiểm.
(4) Thôn Hồ : chỉ giặc Pháp
(5) Tiên nghiêm : ra nghiêm lệnh trước
(6) Thệ sư : cùng với quân sĩ thề sống chết đánh giặc
(5) Có người đã chứng kiến trong khi giao chiến, nói rằng bấy giờ trong thành bắn ra, lính Pháp chẳng chết mấy; đấy là lời nói khoe đó thôi.
(6) Bấy giờ bốn ông quan tỉnh chia giữ bốn cửa, quan Tổng đốc giữ Cửa Bắc.
(7) Tiêm cừu : chỉ muốn giết kẻ thù
(8) Xung quan: giận, tóc dựng lên đội cả mũ mão
(9)Năm quí dậu, Tự Đức thứ 25 (1873), Gác-nhi-ê đánh thành Hà Nội lần đầu.
(10) Tức là cụ Nguyễn Tri Phương uống thuốc độc mà chết theo thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhứt.
(11) Đoạn nầy nói Đề đốc Lê Trinh không chết trong khi thành mất mà lại chạy trốn, theo phép phải có tội, song vì đút tiền nên được khỏi.
(12) Hoàng Hữu Xứng, tự Bình Chi, làm Tuần phủ Hà Nội bấy giờ.Ban đầu cũng thề còn mất với thành, nhưng nhịn ăn được vài bữa lại thôi và bằng lòng hợp tác với thực dân.
(13)Niết công : chỉ Tôn Thất Bá làm Án sát bấy giờ. Buổi sớm mai ngày mồng tám, quân Pháp mới kéo đến , ông Bá xin giấy ra thành để thương thuyết với tướng Pháp xin hoãn binh.
Sau khi thành bị hạ, tướng Pháp giao thành lại, ông Bá đứng nhận. Ông ấy lấy chứng cớ mình ra ngoài hội thương mà đổ trách nhiệm đánh nhau cho một mình quan Tổng đốc, còn mình không can dự.
(14)Chế đài là Tổng đốc
(15) Phiên đài là quan Bố chính.
(16) Xỉ ban : hạng tuổi tác
(17) Bình phong là núi Ngự Bình ở Huế
Ghi chú thêm về Hà thành Chánh khí ca:
Là tác phẩm văn học gồm 140 câu lục bát, chưa rõ tác giả (có ý kiến cho là của Nguyễn Văn Giai, tục gọi là Ba Giai), ra đời khi Pháp tấn công Hà Nội lần thứ hai (1882).
Tác phẩm có ý phỏng theo "Chính khí ca" của Văn Thiên Tường đời Tống (Trung Quốc), biểu dương tấm gương trung liệt của Hoàng Diệu; mặt khác, lên án bọn quan lại bạc nhược đầu hàng, gồm đề đốc Lê Trinh, tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, án sát Tôn Thất Bá, bố chánh Phan Văn Tuyển.
Giá trị của tác phẩm là từ cảm hứng mãnh liệt về chính khí, phân biệt rạch ròi chính tà, từ đó phần nào khắc hoạ được tính cách nhân vật qua lời thơ có phần thuần thục.
“ Hà thành Chánh khí ca”, "Hà thành thất thủ ca", "Hà thành hiểu vọng" là bộ ba sáng tác đã ghi lại sự thật bi tráng của Hà Nội trong những ngày bị Pháp tấn công lần thứ hai.
Nhưng xét ra,“ Hà thành Chánh khí ca” được phổ biến nhất. Hai bản sau tôi sẽ giới thiệu khi có dịp.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Phần 2
Một bài vận văn rất có giá trị về lịch sử:
Hà thành Chánh khí ca
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Bài ca nguyên là truyền miệng, nên giờ đây ‘tam sao thất bổn ” không ít. Không có bút tích nào để đối chiếu, nên người soạn đành dựa vào 2 bản hiện đang có & tương đối khá hoàn chỉnh, đó là:
1/Bản do Huỳnh Lý soạn, nhà xb Văn Hóa Hà Nội, 1958.
2/ Bản do Phan Khôi ( cháu ngoại của Tổng đốc Hoàng Diệu) sưu tầm, đăng trên Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s. 777 ra ngày 4.10.1928 ( bản này bị tòa kiểm duyệt thời bấy giờ cắt mất mấy câu)
Rồi qua đấy, tôi so sánh, bổ khuyết, châm chước; để tạm giới thiệu với bạn đọc một áng hùng văn quí này.
Khi có thời giờ hơn, tôi sẽ cân nhắc & chú thích kỹ càng lại.
Xin bạn đọc bỏ qua tính chủ quan của tôi.
Phần giới thiệu in nghiêng này của Phan Khôi :
Trước khi Văn Thiên Tường chết theo nhà Tống, có đặt một bài ca gọi là Chánh khí ca, kể sự mình giúp vua nhà Tống không thành công và phải chết, chớ không chịu hàng nhà Nguyên. Hà thành Chánh khí ca là do nghĩa đó và nói việc xảy ra ở Hà Nội.
Bài nầy, theo người ta nói, của ông Ba Giai là một nhà văn sĩ ở Hà Nội lúc bấy giờ làm ra.
Một bài văn đã hay lại có quan hệ nhiều về lịch sử, mà xưa nay chưa được in ra, thì chắc truyền không được rộng, và có ngày sẽ mất đi, là ngày nếu người ta quên nó ráo.
Vì nghĩ như vậy chúng tôi mới đem đăng báo để truyền lại cho đời sau một cái sử liệu.
Hà Thành Chánh khí ca
Một vừng chánh khí lưu hình,
Rộng trong trời đất : nhựt, tinh, sơn, hà,
Hạo nhiên ở tại lòng ta,
Tấc vuông son sắt hiện ra khi cùng. (1)
Nên thua theo vận truân phong,
Ngàn thu rạng tiếng anh hùng sử xanh.
Có quan tổng đốc Hà - Ninh
Hiệu là Quang Viễn, trung trinh ai bằng? (2)
Lâm nguy, lý hiểm (3) đã từng,
Vâng ra trọng trấn mới chừng ba năm.
Thôn Hồ (4) dạ vẫn nhăm nhăm,
Ngoài tuy giao thiệp, trong căm những là...
Vừa năm Nhâm Ngọ, tháng ba,
Rạng ngày mồng tám, mới qua giờ thìn,
Biết cơ trước đã giữ gìn,
Hơn trăm võ sĩ, vài nghìn tinh binh.
Tiên nghiêm (5) sai đóng trên thành,
Thệ sư (6) rót chén rượu quỳnh đầy vơi.
Văn quan võ tướng nghe lời,
Hầm hầm xin quyết một bài tận trung.
Ra uy xuống lịnh vừa xong,
Bỗng nghe ngoài đã đùng đùng súng ran.
Tiêm cừu (7) nổi giận xung quan (8)
Quyết rằng chẳng để chi đàn chó dê
Lửa phun súng phát bốn bề,
Khiến loài bạch quỉ hồn lìa phách xiêu
Bắn ra nó chết cũng nhiều
Phố phường trông thấy, tiếng reo ầm ầm.
Quan quân đắc chí bình tâm,
Cửa Đông, cửa Bắc vẫn cầm vững binh.
Chém cha cái lũ hôi tanh
Phen này quét sạch sành sanh mới là!
Không ngờ thất ý tại ta,
Rõ ràng thắng trận, thế mà thua cơ!
Nội công rắp tự bao giờ,
Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngã theo
Quan quân sợ chết thảy đều,
Cửa Tây, Bạch qủi đánh liều trèo lên.
Nào ai sức mạnh gan liền?
Nào ai cầm vững cho bền ba quân?
Nào ai có chí kinh luân?
Nào ai nghĩ đến thánh quân trên đầu?
Một cơn gió thảm mưa sầu,
Đốt nung gan sắt, giãi dầu lòng son,
Chữ trung còn chút con con,
Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây.
Trời cao biển rộng đất dày,
Non Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi!
Thương thay trong buổi gian nguy,
Lòng riêng ai chẳng thương vì người trung!
Rủ nhau tiền góp của chung,
Rước người ra táng ở trong học đường.
Đau đớn nhẽ, ngẩn ngơ dường!
Tả tơi thành quách, tồi tàn cỏ hoa!
Kể từ năm Dậu bao xa, (9)
Đến nay tính đốt phỏng đà mười niên.
Long thành thất thủ hai phen,
Kho tàng hết sạch, quân quyền dời tan.
Đổi thay trải mấy ông quan,
Quyên sanh tựu nghĩa, có gan mấy người?
Trước quan Võ hiển khâm sai (10)
Sau, quan Tổng đốc một vài mà thôi.
Ngoài ra võ giáp văn khôi,
Quan, bào, trâm, hốt nhác coi, ngỡ là...
Khi bình làm hại dân ta,
Túi tham vơ nhặt chẳng tha miếng gì.
Đến khi hoạn nạn gian nguy,
Mắt trông ngơ ngác, chơn đi gập ghình.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Võ như đề đốc Lê Trinh, (11)
Cùng là chánh phó lãnh binh một đoàn,
Đương khi giao chiến ngang tàng,
Thấy quân hầu đổ vội vàng chạy ngay.
Nghĩ xem thật cũng ghê thay,
Bảo thân chước ấy ai bày sẵn cho?
Thế mà nghe nói mơ hồ
Rằng: quan đề đốc xuống hồ cửa tây;
Kẻ rằng: Treo ở cành cây
Người rằng: hẳn xuống giếng nầy không sai.
Thăm tìm ngày một ngày hai,
Định rằng hiệp táng cùng nơi học đường.
Hỏi ra sau mới tỏ tường,
Cũng loài uý tử, cũng phường tham sanh.
Phép công nên bắt gia hình,
Rồi ra nặng chữ nhơn tình lại thôi.
Văn như Tuần phủ nực cười,
Bình Chi là hiệu, năm mươi tuổi già (12)
Biết bao cơm áo nước nhà?
Nhắm trong sĩ tịch cũng là đại viên.
Chén son chưa cạn lời nguyền,
Nỡ nào bỗng chốc quên liền ngay đi?
Lại còn lẩn khuất làm chi?
Hay là tham tiếc mùi gì ở đây?
Hay là còn chước bình Tây,
Chực làm nội ứng, đợi ngày viện binh?
Hay là tiếc gái xuân xanh?
Tìm nơi kiếm chốn gieo mình trú chân ?
Hay là còn chút từ thân,
Rắp toan tịch cốc mấy lần lại thôi!
Sao không sợ tiếng với đời?
Sao không thẹn với người tử trung?
Kìa Tôn Thất Bá niết công, (13)
Kim chi ngọc diệp, vốn dòng tôn nhân,
Đã quốc tộc, lại vương thần,
Cũng nên hết sức kinh luân mới là...
Nước non vẫn nước non nhà,
Nỡ sao bán rẻ một tòa Thăng Long?
Thề xưa liệu đã chẳng xong,
Lại còn mở mặt trong vòng lưỡng gian
Tư giao rắp những mưu gian,
Thừa cơ xin chữ hội thương ra ngoài
Ấy mới khôn, ấy mới tài,
Lẩn đi tránh tiếng, giục người nói quanh.
Dâng công quyền nhận tỉnh thành,
Xui người đổ tiếng một mình quan trên.
Tội danh thiệt đã quả nhiên,
Xin đem giao xuống cửu nguyên chế đài (14)
Thung dung kể đến phiên đài (15)
Xỉ ban(16) cũng đã tuổi ngoài sáu mươi.
Thác trong thôi cũng nên đời.
Sống thừa chi để kẻ cười, người chê!
Nhĩ Hà, Tản lĩnh đi về,
Giang sơn tuyết chở, sương che cũng liều!
Còn như ty thuộc hạ liêu,
Kẻ công người quả còn nhiều chan chan,
Biết đâu cho khắp mà bàn,
Sau nầy sẽ có sử quan phẩm bình,
Trước rèm gió mát trăng thanh
Thừa lương nhân chốn nhàn đình thong dong.
Xa trông chót vót Bình phong (17)
Chúc mừng vạn thọ thánh cung lâu dài!
Rồi khi cá nước duyên hài,
Ra tay khang tế, giở tài kinh luân.
Nghiêu Thuấn quân, Nghiêu Thuấn dân,
Bát thiên thu, bát thiên xuân thái hòa!
Bây giờ ta gắn với ta,
Túy tinh khiển hứng, ngâm nga tiêu sầu.
Ở đời văn võ công hầu,
Càng nghe câu chuyện càng sầu bên tai!
Diễn ca Chánh khí một bài,
Để cho thiên hạ người người khuyên răn.
Chú thích :
(1) Mấy câu này dựa theo ý mở đầu bài Chánh khí ca của Văn Thiên Tường.
(2) Tên hiệu của Hoàng Diệu.
(3) Lý hiểm : từng trải sự nguy hiểm.
(4) Thôn Hồ : chỉ giặc Pháp
(5) Tiên nghiêm : ra nghiêm lệnh trước
(6) Thệ sư : cùng với quân sĩ thề sống chết đánh giặc
(5) Có người đã chứng kiến trong khi giao chiến, nói rằng bấy giờ trong thành bắn ra, lính Pháp chẳng chết mấy; đấy là lời nói khoe đó thôi.
(6) Bấy giờ bốn ông quan tỉnh chia giữ bốn cửa, quan Tổng đốc giữ Cửa Bắc.
(7) Tiêm cừu : chỉ muốn giết kẻ thù
(8) Xung quan: giận, tóc dựng lên đội cả mũ mão
(9)Năm quí dậu, Tự Đức thứ 25 (1873), Gác-nhi-ê đánh thành Hà Nội lần đầu.
(10) Tức là cụ Nguyễn Tri Phương uống thuốc độc mà chết theo thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhứt.
(11) Đoạn nầy nói Đề đốc Lê Trinh không chết trong khi thành mất mà lại chạy trốn, theo phép phải có tội, song vì đút tiền nên được khỏi.
(12) Hoàng Hữu Xứng, tự Bình Chi, làm Tuần phủ Hà Nội bấy giờ.Ban đầu cũng thề còn mất với thành, nhưng nhịn ăn được vài bữa lại thôi và bằng lòng hợp tác với thực dân.
(13)Niết công : chỉ Tôn Thất Bá làm Án sát bấy giờ. Buổi sớm mai ngày mồng tám, quân Pháp mới kéo đến , ông Bá xin giấy ra thành để thương thuyết với tướng Pháp xin hoãn binh.
Sau khi thành bị hạ, tướng Pháp giao thành lại, ông Bá đứng nhận. Ông ấy lấy chứng cớ mình ra ngoài hội thương mà đổ trách nhiệm đánh nhau cho một mình quan Tổng đốc, còn mình không can dự.
(14)Chế đài là Tổng đốc
(15) Phiên đài là quan Bố chính.
(16) Xỉ ban : hạng tuổi tác
(17) Bình phong là núi Ngự Bình ở Huế
Ghi chú thêm về Hà thành Chánh khí ca:
Là tác phẩm văn học gồm 140 câu lục bát, chưa rõ tác giả (có ý kiến cho là của Nguyễn Văn Giai, tục gọi là Ba Giai), ra đời khi Pháp tấn công Hà Nội lần thứ hai (1882).
Tác phẩm có ý phỏng theo "Chính khí ca" của Văn Thiên Tường đời Tống (Trung Quốc), biểu dương tấm gương trung liệt của Hoàng Diệu; mặt khác, lên án bọn quan lại bạc nhược đầu hàng, gồm đề đốc Lê Trinh, tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, án sát Tôn Thất Bá, bố chánh Phan Văn Tuyển.
Giá trị của tác phẩm là từ cảm hứng mãnh liệt về chính khí, phân biệt rạch ròi chính tà, từ đó phần nào khắc hoạ được tính cách nhân vật qua lời thơ có phần thuần thục.
“ Hà thành Chánh khí ca”, "Hà thành thất thủ ca", "Hà thành hiểu vọng" là bộ ba sáng tác đã ghi lại sự thật bi tráng của Hà Nội trong những ngày bị Pháp tấn công lần thứ hai.
Nhưng xét ra,“ Hà thành Chánh khí ca” được phổ biến nhất. Hai bản sau tôi sẽ giới thiệu khi có dịp.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tổng Đốc Hoàng Diệu 2_đọc truyện sex hay việt
Trang 2 trong tổng số 3
VI. Thêm vài tài liệu liên quan:
1. Thành cổ Hà Nội:
Thành cổ này hiện thuộc phường Điện Biên, quận Ba Đình, với tổng diện tích 49.135m2. Gồm 4 khu: Bắc Môn (1112,6m2), Hậu Lâu (2475,1m2), Điện Kính Thiên (41865,8m2), Sở Chỉ huy của Bộ Quốc phòng) và Đoan Môn (3661,5m2).
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Nhà Nguyễn lên ngôi, Thăng Long từ vị trí Kinh đô của quốc gia trở thành trấn thành rồi tỉnh thành. Mất vai trò trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế… các công trình trong hoàng thành phải thay đổi quy mô.
Năm 1803, vua Gia Long lệnh phá bỏ thành cũ có từ các triều đại trước đã bị hư hại nhiều, xây lại theo kiến trúc của Pháp bằng đá tảng và gạch nung rất kiên cố, nhưng có tầm vóc nhỏ hơn thành của những vương triều trước.
(Năm 1010, sau khi lên ngôi vua, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên là Thăng Long.HoàngThành này được nhiều lần tôn tạo nguy nga, tráng lệ & cũng đã nhiều lần bị tàn phá…
Như cuối thế kỷ 13, quân Nguyên-Mông nhiều lần cướp phá Thăng Long. Sang thế kỷ XIV (năm 1371 đến 1378), quân Chiêm Thành đã bốn lần đem quân tấn công đốt phá kinh thành.Và hoang tàn hơn khi nhà Minh sang xâm chiếm Việt Nam vào năm 1407, trong 20 năm liền họ đã phá nát nhiều cung điện, đền chùa, bảo tháp…
Sang thế kỷ XVIII, thành bị sụt lở nhiều, khi nhà Tây Sơn ra Thănglong.Các cửa thành đã đổ gần hết chỉ còn lại hai cửa Đại Hưng ở phía nam và Đông Hoa ở phía đông…)
Các công trình trong thành được bố trí kế thừa những di tích xưa:
Chính giữa vẫn là điện Kính Thiên. Thềm điện Kính Thiên cao ba cấp, có chạm những con rồng bằng gỗ. Gần điện có Hành Cung là nơi vua ngự mỗi khi kinh lý Bắc thành. Từ điện Kính Thiên đi ra là Đoan môn, cấu trúc gồm ba cửa trong đó cửa chính giữa dành cho nhà vua, hai cửa nhỏ dành cho các quan lại. Đàn Xã Tắc để tế trời đặt bên trái ngoài Đoan Môn cùng một Đình bia ghi công trạng của vua Gia Long.
( Mấy năm gần đây nhờ công tác khai quật khảo cổ họ cnên trả lời được nhiều vấn đề sau bao năm tranh luận:
Thành Thăng Long đời Lý vẫn giữ nguyên vẹn vị trí cũ cho đến đời Nguyễn. Núi Nùng (tức núi Long Ðỗ) vẫn là trung tâm của thành qua bao thế kỷ...
Và Bắc Môn được xác định chính là Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn…)
Năm 1805, Gia Long cho xây dựng Kỳ Đài (Cột Cờ) gần Đình bia. Để xứng tầm với một “tỉnh thành”, năm 1831 Vua Minh Mạng ra lệnh hạ thấp tường thành và đổi tên là thành Hà Nội.
Năm 1848, Vua Tự Đức cho phá dỡ các cung điện còn lại trong thành, những đồ chạm khắc mỹ thuật bằng gỗ, đá đều đưa về Huế, chỉ còn sót lại rồng đá ở điện Kính Thiên…
Lần tàn phá thành cuối cùng là khi quân Pháp tấn công Hà Nội vào cuối thế kỉ XIX.
Khi họ vào chiếm đóng,điện Kính Thiên bị phá để xây nhà chỉ huy pháo binh, Đoan Môn bị sửa biến thành trại lính…
Cuối cùng, năm 1893, thực dân Pháp lại quyết định phá bỏ toàn bộ tường thành. Trong 62 năm (từ 1892 đến 1954) đóng quân, người Pháp đã biến Thành cổ Hà Nội thành một khu quân sự, một trại lính. Hầu như tất cả các công trình cổ còn lại đã bị biến thành nhà ở hoặc phá bỏ lấy đất, gạch xây các công trình quân sự, nhà ở cho các sĩ quan, binh lính, kho tàng…
Cái còn sót lại cho hôm nay là dấu vết của Kỳ Đài (Cột Cờ), Đoan môn, nền điện Kính Thiên và Bắc Môn (Cửa Bắc), cửa duy nhất còn lại của thành Hà Nội thời Nguyễn, vẫn mang hoài dấu vết của đạn đại bác của Pháp bắn từ tàu chiến trên sông Hồng, khi họ tấn công phá thành vào năm 1882, thời của Tổng đốc Hoàng Diệu…
2. Về tấm bia Lệnh cấm trừ tệ:
Hoàng Diệu luôn mong muốn nhân dân được sống trong công bằng và trật tự.
Minh chứng cho điều này là ngày nay, ở Ô Quan Chưởng, đầu phố Hàng Chiếu, còn áp ở mặt tường cổng ra vào một phần tấm bia Lệnh cấm trừ tệ (Thân cấm khu tệ), niêm yết năm 1881, của Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu và Tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng.
Nội dung bia nhằm ngăn chặn các tệ nhũng nhiễu đối với nhân dân trong các dịp ma chay, cưới xin; cũng như nạn vòi tiền, cướp bóc trên sông, ở các chợ; kèm theo các quy định cụ thể cần thi hành đến nơi đến chốn.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Một di tích quý hiếm nói lên tấm lòng son của người công bộc, sẽ mãi mãi còn nguyên giá trị của nó.
3. Di biểu củaHoàng Diệu trước khi tuẩn tiết:
“…Tôi sức học rất thường được dùng quá lớn, mang ơn phó thác trọng trấn một phương .Giữa lúc giặc giã lung tung ba cõi , một kẽ học trò việc biên vốn chữa thuộc thông, 10 năm thương ước lòng địch vẫn khó tin .
Từ lúc tôi vâng lịnh vua ra trấn thủ Hà Nội đến nay ba năm vẫn lo rèn tập giáp binh ,sửa soạn thành lũy ; không những ở yên bờ cõi, mà còn phải phòng bị lòng chứng sài lang
Nào ngờ: chim chóc còn đang lót ổ, muôn thú đã dậy lòng tham. Ngày 1tháng hai năm nay, thấy tàu nước Phú -Lãng tấp nập kéo tới phần nhiều đậu ở đây .Binh họ đến phương xa, dân mình thấy mà lo ngại .
Tôi trộm nghĩ Hà thành là đất cuống họng của xứ Bắc, lại là nơi trọng yếu của nước ta, nếu như một may thành này chẳng may sụp đổ như núi lở, thì các tỉnh lần lượt vỡ như ngói tan .Vì thế mà tôi lo sợ khẩn cấp tư giấy đi các tỉnh lân cận, một mặt dâng sớ về triều đình cầu viện.
Nhưng mà mấy lần tiếp được chiếu thư gửi ra, khi thì trách tôi lấy việc binh ra hâm dọa , khi thì quở tôi phòng quân địch không phải đường …
Tôi tự xét không quyền chế, quan to dám đâu lìa chức ra đi ; răn mình theo đạo cồ nhân , lòng trung chỉ biết thờ vua một dạ.
Thường ngày tôi cùng hai người có chức vụ ,bàn soạn công việc, có người bàn nên mở cửa thành cho họ tự do ra vào, có người khuyên phải triệt binh để họ hết điều ngờ vực .Tôi nghĩ dù cho thịt nát xương mòn cũng cam không nở lòng nào làm những việc như thế cho được .
Giữa lúc ra thu xếp chưa địch ra sao, thì họ đã trái lời giao kết ngày trước. Ngày hôm mùng 7, họ đưa chiến thư, sáng hôm sau họ tiến quan đánh thắng.
Quân địch bu như kiến cỏ, súng tây nổ như sấm vang
Ngoài phố cháy lây trong thành khiếp vía.
Tôi tuy mới đau dậy, cũng cố gượng cầm binh, treo gương xông pha ,trước hàng tướng sĩ. Bắn chết quân địch hơn trăm, cố giữ thành trì nửa buỗi.
Nhưng mà họ mạnh ta yếu, viện tuyệt, thế cùng, tướng võ sợ địch bỏ chạy tứ tung, quan văn thấy nguy đua nhau đào tẩu. Tấc lòng tôi đau như dao cắt, một tay mình khó nổi chống ngăn. Làm tướng muốn không phải tài, than thân sống thật vô ích.
Mất thành mà chẳng thể cứu, nghĩ mình tội chết có thừa. Thoát lấy thân hòng chuyện báo phục mai sau, đâu dám đeo gương Tào Mạt; thà rằng chết để bù tránh nhiệm hiện tại chỉ còn bắt trước Trương Tuần
Nào dám khoe khoang gì đâu, chẳng qua vì thế sự khiến vậy
Để cho đất nước mất về quân địch, luống thẹn với sĩ phu đất Bắc ở trần gian; thôi thì lòng riêng nguyện với thành trì, xin theo gót tiên liệt Nguyễn Tri Phương nơi chín suối
Vài hàng lệ máu, muôn dặm quân vương, xin đem ánh sáng của mặt trời, mặt trăng soi thấu lòng tôi vậy.”
Tự Đức năm thứ 35, ngày mồng tám tháng ba
4. Về cây đa nơi Hoàng Diệu tuẩn tiết:
Vào khoảng bốn mươi năm trước, mỗi khi đi lên đường cột cờ nếu ai chủ ý nhìn về trước mặt, phía trên sở tài chính bây giờ, cũng trong thấy một cây cổ thụ, cành lá đã héo khô, chỉ còn trơ lại cái thân cây cằn cổi, một mình đứng trơ trơ trên bãi đất hoang,
theo lời những người có tuổi thường biết mà đó là cái cây của Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu đã treo cổ tự tử ngày mồng tám tháng ba năm nhâm ngọ.
Không bao lâu thành phố mở mang khu đất ấy, cậy cổ thụ kia chẳng biết đốn từ khi nào không ai trông thấy nữa, một vật vô cùng đã được làm dấu cũ để chỉ tỏ cho người sau biết tấm lòng hi sinh vì nước của một vĩ nhân và sự thay đổi của một thời đại đã qua, chẳng được người sau che chở hộ trì, đã bị may một dập vùi, thực là đáng tiếc
Không biết ông Hoàng có quả đã mượn cây ấy để chết theo nạn nước không, tôi cũng không chắc, nhưng chứng các sách đã ghi chép lại sư biến hồi đó cũng điều nói là ông treo cổ tuẫn tiết ở một cái cây gần Võ miếu hay miếu thờ Quan Công và do sự nhận xét chỗ của ông tuẫn tiết dù dấu cũ không còn ,cũng có thể nói quyết là giới hạn cũng trong bãi đó mà thôi.
(Theo tài liệu của Doãn Kế Thiện trong sách Hà Nội cũ)
V. Trích bút ký “Đứa con phù sa” của Hoàng Phủ Ngọc Tường để thay lời kết:
…Tôi có đi thăm mộ cụ Hoàng Diệu ở giữa cánh đồng xuân đài.Mộ không bề thế như tôi tưởng,còn quá nhỏ so với lăng mộ của những viên quan lớn vô tích sự trên triều đình Huế mà tôi vẫn thường thấy. Mộ là một nắm vôi khô nằm vùi giữa đồng cỏ voi, xa khu dân cư nên trong chiến tranh thoát khỏi bị xe Mỹ càn ủi.
Đúng một trăm năm sau ngày Hoàng Diệu tuẫn tiết, xã đã trùng tu lại nơi yên nghỉ của cụ, quy cách khiêm tốn như nó vốn thế. Tường lăng sơn trắng phơn phớt hồng nỗi lên màu lá xanh, bát ngát và trong sáng, đúng là giấc ngủ của người anh hùng.
Người sinh ra ở gò nổi để chết dưới chân thành Hà Nội, xương thịt trở về với đất làng mà chính khí vang động sử sách,“trời cao bể rộng đất dày-núi Nùng sông Nhị chốn này làm ghi”.
Trước mặt người ta đọc thấy cặp câu đối viếng của Tôn Thất Thuyết: “nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện- bình sinh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khả vô tâm” (lấy cái chết để thành tên tuổi, xưa nay người anh hùng đâu muốn thế- một thời trung nghĩa lòng không thể hổ thẹn khi nhìn đai cuộc ngày nay)…
Hồi nhỏ nhà nghèo, mẹ chăn tằm dệt lụa nuôi con ăn học. Hoàng Diệu lớn lên bằng tuổi trẻ gian khổ ở làng quê, buổi sáng sớm đi học chỉ súc miệng và nhịn đói, trưa về ăn một chén bắp nấu đậu, đến tối cả nhà chia mỗi người một bát cơm .
Ngày nghe tin chồng tuẫn tiết, bà Hoàng Diệu đang cuốc cỏ lá de, ngất xỉu ngay trên bờ ruộng.
Làm quan Tổng đốc mà nhà còn nghèo đến thế, huống là nhà dân!...
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
VI. Thêm vài tài liệu liên quan:
1. Thành cổ Hà Nội:
Thành cổ này hiện thuộc phường Điện Biên, quận Ba Đình, với tổng diện tích 49.135m2. Gồm 4 khu: Bắc Môn (1112,6m2), Hậu Lâu (2475,1m2), Điện Kính Thiên (41865,8m2), Sở Chỉ huy của Bộ Quốc phòng) và Đoan Môn (3661,5m2).
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Nhà Nguyễn lên ngôi, Thăng Long từ vị trí Kinh đô của quốc gia trở thành trấn thành rồi tỉnh thành. Mất vai trò trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế… các công trình trong hoàng thành phải thay đổi quy mô.
Năm 1803, vua Gia Long lệnh phá bỏ thành cũ có từ các triều đại trước đã bị hư hại nhiều, xây lại theo kiến trúc của Pháp bằng đá tảng và gạch nung rất kiên cố, nhưng có tầm vóc nhỏ hơn thành của những vương triều trước.
(Năm 1010, sau khi lên ngôi vua, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên là Thăng Long.HoàngThành này được nhiều lần tôn tạo nguy nga, tráng lệ & cũng đã nhiều lần bị tàn phá…
Như cuối thế kỷ 13, quân Nguyên-Mông nhiều lần cướp phá Thăng Long. Sang thế kỷ XIV (năm 1371 đến 1378), quân Chiêm Thành đã bốn lần đem quân tấn công đốt phá kinh thành.Và hoang tàn hơn khi nhà Minh sang xâm chiếm Việt Nam vào năm 1407, trong 20 năm liền họ đã phá nát nhiều cung điện, đền chùa, bảo tháp…
Sang thế kỷ XVIII, thành bị sụt lở nhiều, khi nhà Tây Sơn ra Thănglong.Các cửa thành đã đổ gần hết chỉ còn lại hai cửa Đại Hưng ở phía nam và Đông Hoa ở phía đông…)
Các công trình trong thành được bố trí kế thừa những di tích xưa:
Chính giữa vẫn là điện Kính Thiên. Thềm điện Kính Thiên cao ba cấp, có chạm những con rồng bằng gỗ. Gần điện có Hành Cung là nơi vua ngự mỗi khi kinh lý Bắc thành. Từ điện Kính Thiên đi ra là Đoan môn, cấu trúc gồm ba cửa trong đó cửa chính giữa dành cho nhà vua, hai cửa nhỏ dành cho các quan lại. Đàn Xã Tắc để tế trời đặt bên trái ngoài Đoan Môn cùng một Đình bia ghi công trạng của vua Gia Long.
( Mấy năm gần đây nhờ công tác khai quật khảo cổ họ cnên trả lời được nhiều vấn đề sau bao năm tranh luận:
Thành Thăng Long đời Lý vẫn giữ nguyên vẹn vị trí cũ cho đến đời Nguyễn. Núi Nùng (tức núi Long Ðỗ) vẫn là trung tâm của thành qua bao thế kỷ...
Và Bắc Môn được xác định chính là Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn…)
Năm 1805, Gia Long cho xây dựng Kỳ Đài (Cột Cờ) gần Đình bia. Để xứng tầm với một “tỉnh thành”, năm 1831 Vua Minh Mạng ra lệnh hạ thấp tường thành và đổi tên là thành Hà Nội.
Năm 1848, Vua Tự Đức cho phá dỡ các cung điện còn lại trong thành, những đồ chạm khắc mỹ thuật bằng gỗ, đá đều đưa về Huế, chỉ còn sót lại rồng đá ở điện Kính Thiên…
Lần tàn phá thành cuối cùng là khi quân Pháp tấn công Hà Nội vào cuối thế kỉ XIX.
Khi họ vào chiếm đóng,điện Kính Thiên bị phá để xây nhà chỉ huy pháo binh, Đoan Môn bị sửa biến thành trại lính…
Cuối cùng, năm 1893, thực dân Pháp lại quyết định phá bỏ toàn bộ tường thành. Trong 62 năm (từ 1892 đến 1954) đóng quân, người Pháp đã biến Thành cổ Hà Nội thành một khu quân sự, một trại lính. Hầu như tất cả các công trình cổ còn lại đã bị biến thành nhà ở hoặc phá bỏ lấy đất, gạch xây các công trình quân sự, nhà ở cho các sĩ quan, binh lính, kho tàng…
Cái còn sót lại cho hôm nay là dấu vết của Kỳ Đài (Cột Cờ), Đoan môn, nền điện Kính Thiên và Bắc Môn (Cửa Bắc), cửa duy nhất còn lại của thành Hà Nội thời Nguyễn, vẫn mang hoài dấu vết của đạn đại bác của Pháp bắn từ tàu chiến trên sông Hồng, khi họ tấn công phá thành vào năm 1882, thời của Tổng đốc Hoàng Diệu…
2. Về tấm bia Lệnh cấm trừ tệ:
Hoàng Diệu luôn mong muốn nhân dân được sống trong công bằng và trật tự.
Minh chứng cho điều này là ngày nay, ở Ô Quan Chưởng, đầu phố Hàng Chiếu, còn áp ở mặt tường cổng ra vào một phần tấm bia Lệnh cấm trừ tệ (Thân cấm khu tệ), niêm yết năm 1881, của Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu và Tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng.
Nội dung bia nhằm ngăn chặn các tệ nhũng nhiễu đối với nhân dân trong các dịp ma chay, cưới xin; cũng như nạn vòi tiền, cướp bóc trên sông, ở các chợ; kèm theo các quy định cụ thể cần thi hành đến nơi đến chốn.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Một di tích quý hiếm nói lên tấm lòng son của người công bộc, sẽ mãi mãi còn nguyên giá trị của nó.
3. Di biểu củaHoàng Diệu trước khi tuẩn tiết:
“…Tôi sức học rất thường được dùng quá lớn, mang ơn phó thác trọng trấn một phương .Giữa lúc giặc giã lung tung ba cõi , một kẽ học trò việc biên vốn chữa thuộc thông, 10 năm thương ước lòng địch vẫn khó tin .
Từ lúc tôi vâng lịnh vua ra trấn thủ Hà Nội đến nay ba năm vẫn lo rèn tập giáp binh ,sửa soạn thành lũy ; không những ở yên bờ cõi, mà còn phải phòng bị lòng chứng sài lang
Nào ngờ: chim chóc còn đang lót ổ, muôn thú đã dậy lòng tham. Ngày 1tháng hai năm nay, thấy tàu nước Phú -Lãng tấp nập kéo tới phần nhiều đậu ở đây .Binh họ đến phương xa, dân mình thấy mà lo ngại .
Tôi trộm nghĩ Hà thành là đất cuống họng của xứ Bắc, lại là nơi trọng yếu của nước ta, nếu như một may thành này chẳng may sụp đổ như núi lở, thì các tỉnh lần lượt vỡ như ngói tan .Vì thế mà tôi lo sợ khẩn cấp tư giấy đi các tỉnh lân cận, một mặt dâng sớ về triều đình cầu viện.
Nhưng mà mấy lần tiếp được chiếu thư gửi ra, khi thì trách tôi lấy việc binh ra hâm dọa , khi thì quở tôi phòng quân địch không phải đường …
Tôi tự xét không quyền chế, quan to dám đâu lìa chức ra đi ; răn mình theo đạo cồ nhân , lòng trung chỉ biết thờ vua một dạ.
Thường ngày tôi cùng hai người có chức vụ ,bàn soạn công việc, có người bàn nên mở cửa thành cho họ tự do ra vào, có người khuyên phải triệt binh để họ hết điều ngờ vực .Tôi nghĩ dù cho thịt nát xương mòn cũng cam không nở lòng nào làm những việc như thế cho được .
Giữa lúc ra thu xếp chưa địch ra sao, thì họ đã trái lời giao kết ngày trước. Ngày hôm mùng 7, họ đưa chiến thư, sáng hôm sau họ tiến quan đánh thắng.
Quân địch bu như kiến cỏ, súng tây nổ như sấm vang
Ngoài phố cháy lây trong thành khiếp vía.
Tôi tuy mới đau dậy, cũng cố gượng cầm binh, treo gương xông pha ,trước hàng tướng sĩ. Bắn chết quân địch hơn trăm, cố giữ thành trì nửa buỗi.
Nhưng mà họ mạnh ta yếu, viện tuyệt, thế cùng, tướng võ sợ địch bỏ chạy tứ tung, quan văn thấy nguy đua nhau đào tẩu. Tấc lòng tôi đau như dao cắt, một tay mình khó nổi chống ngăn. Làm tướng muốn không phải tài, than thân sống thật vô ích.
Mất thành mà chẳng thể cứu, nghĩ mình tội chết có thừa. Thoát lấy thân hòng chuyện báo phục mai sau, đâu dám đeo gương Tào Mạt; thà rằng chết để bù tránh nhiệm hiện tại chỉ còn bắt trước Trương Tuần
Nào dám khoe khoang gì đâu, chẳng qua vì thế sự khiến vậy
Để cho đất nước mất về quân địch, luống thẹn với sĩ phu đất Bắc ở trần gian; thôi thì lòng riêng nguyện với thành trì, xin theo gót tiên liệt Nguyễn Tri Phương nơi chín suối
Vài hàng lệ máu, muôn dặm quân vương, xin đem ánh sáng của mặt trời, mặt trăng soi thấu lòng tôi vậy.”
Tự Đức năm thứ 35, ngày mồng tám tháng ba
4. Về cây đa nơi Hoàng Diệu tuẩn tiết:
Vào khoảng bốn mươi năm trước, mỗi khi đi lên đường cột cờ nếu ai chủ ý nhìn về trước mặt, phía trên sở tài chính bây giờ, cũng trong thấy một cây cổ thụ, cành lá đã héo khô, chỉ còn trơ lại cái thân cây cằn cổi, một mình đứng trơ trơ trên bãi đất hoang,
theo lời những người có tuổi thường biết mà đó là cái cây của Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu đã treo cổ tự tử ngày mồng tám tháng ba năm nhâm ngọ.
Không bao lâu thành phố mở mang khu đất ấy, cậy cổ thụ kia chẳng biết đốn từ khi nào không ai trông thấy nữa, một vật vô cùng đã được làm dấu cũ để chỉ tỏ cho người sau biết tấm lòng hi sinh vì nước của một vĩ nhân và sự thay đổi của một thời đại đã qua, chẳng được người sau che chở hộ trì, đã bị may một dập vùi, thực là đáng tiếc
Không biết ông Hoàng có quả đã mượn cây ấy để chết theo nạn nước không, tôi cũng không chắc, nhưng chứng các sách đã ghi chép lại sư biến hồi đó cũng điều nói là ông treo cổ tuẫn tiết ở một cái cây gần Võ miếu hay miếu thờ Quan Công và do sự nhận xét chỗ của ông tuẫn tiết dù dấu cũ không còn ,cũng có thể nói quyết là giới hạn cũng trong bãi đó mà thôi.
(Theo tài liệu của Doãn Kế Thiện trong sách Hà Nội cũ)
V. Trích bút ký “Đứa con phù sa” của Hoàng Phủ Ngọc Tường để thay lời kết:
…Tôi có đi thăm mộ cụ Hoàng Diệu ở giữa cánh đồng xuân đài.Mộ không bề thế như tôi tưởng,còn quá nhỏ so với lăng mộ của những viên quan lớn vô tích sự trên triều đình Huế mà tôi vẫn thường thấy. Mộ là một nắm vôi khô nằm vùi giữa đồng cỏ voi, xa khu dân cư nên trong chiến tranh thoát khỏi bị xe Mỹ càn ủi.
Đúng một trăm năm sau ngày Hoàng Diệu tuẫn tiết, xã đã trùng tu lại nơi yên nghỉ của cụ, quy cách khiêm tốn như nó vốn thế. Tường lăng sơn trắng phơn phớt hồng nỗi lên màu lá xanh, bát ngát và trong sáng, đúng là giấc ngủ của người anh hùng.
Người sinh ra ở gò nổi để chết dưới chân thành Hà Nội, xương thịt trở về với đất làng mà chính khí vang động sử sách,“trời cao bể rộng đất dày-núi Nùng sông Nhị chốn này làm ghi”.
Trước mặt người ta đọc thấy cặp câu đối viếng của Tôn Thất Thuyết: “nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện- bình sinh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khả vô tâm” (lấy cái chết để thành tên tuổi, xưa nay người anh hùng đâu muốn thế- một thời trung nghĩa lòng không thể hổ thẹn khi nhìn đai cuộc ngày nay)…
Hồi nhỏ nhà nghèo, mẹ chăn tằm dệt lụa nuôi con ăn học. Hoàng Diệu lớn lên bằng tuổi trẻ gian khổ ở làng quê, buổi sáng sớm đi học chỉ súc miệng và nhịn đói, trưa về ăn một chén bắp nấu đậu, đến tối cả nhà chia mỗi người một bát cơm .
Ngày nghe tin chồng tuẫn tiết, bà Hoàng Diệu đang cuốc cỏ lá de, ngất xỉu ngay trên bờ ruộng.
Làm quan Tổng đốc mà nhà còn nghèo đến thế, huống là nhà dân!...
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tổng Đốc Hoàng Diệu 1_đọc truyện sex hay việt
Trang 1 trong tổng số 3
Tổng Đốc Hoàng Diệu
Tác giả: Bùi Thụy Đào Nguyên
Phần 1
Hà thành Chính khí ca : Tổng đốc Hoàng Diệu.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
“Ông ngoại tôi (Hoàng Diệu) làm đến Tổng đốc Hà Nội mà không có tiền lợp nổi cái nhà của ông bà để lại đã tróc ngói…”
.Phan Khôi
I. Tóm tắt tiểu sử:
Hoàng Diệu tên chữ là Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10-2 năm Kỷ Sửu (tức ngày 5-3-1829) tại làng Xuân Đài, nay thuộc xã Điện Quang, vùng Gò Nổi, Điện Bàn. Ông là một trong các nhà khoa bảng yêu nước ở đất Quảng.
Gia đình xuất thân nhà nông và theo nho học. Ông thân sinh là Hoàng Văn Cự làm hương chức, qua đời năm 54 tuổi. Bà thân mẫu Phạm Thị Khuê thọ 88 tuổi, tần tảo làm ruộng và chăn tằm, nuôi dạy con cái. Gia đình có 11 người con, 8 trai, 3 gái. Gần xa trong tỉnh, anh em Hoàng Diệu nổi tiếng hiếu học và học giỏi. Lớn lên 6 người đỗ đạt: một phó bảng, 3 cử nhân và 2 tú tài.
Khoa thi hương tại Thừa Thiên năm 1848, Hoàng Kim Giám, 23 tuổi và Hoàng Kim Tích, tức Hoàng Diệu, 20 tuổi cùng đỗ cử nhân. Hoàng Kim Giám không ra làm quan, qua đời năm 34 tuổi. Hoàng Diệu, 25 tuổi thi đình đỗ phó bảng (1853).
Trên các bước đường làm quan, theo Đại Nam chính biên liệt truyện, Hoàng Diệu được đánh giá là một vị quan "tính tình cương trực, thanh liêm, lâm sự quyết đoán, có phong độ bậc đại thần"…
Bởi thế cho nên, suốt 30 năm làm quan lớn ở nhiều nơi mà cảnh nhà vẫn thanh bạch, nghèo túng.
Một khía cạnh đáng quí khác nữa, đó là tại các nơi ông cai quản trật tự xã hội rất nghiêm minh, không có tình trạng nhũng lạm, trộm cướp hay chuyện áp bức dân lành.
Vua Tự Đức đã khen Hoàng Diệu rằng: "Chăm lo cho dân Bắc Hà, ngoài Hoàng Diệu ra không ai hơn"..
II. Thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai(1882):
Đầu năm 1880, Hoàng Diệu nhận chức tổng đốc Hà Ninh kiêm trông coi công việc thương chánh. Biết rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp lúc bấy giờ, Hoàng Diệu bắt tay ngay vào việc chuẩn bị chiến đấu, biên phòng. Năm 1882 thấy binh thuyền nước Pháp tự nhiên ra Bắc, ông e ngại lắm. Một mặt ông phái Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng ra tiếp, mặt khác ông lo chỉnh đốn thêm thành trì và quân ngũ để đề phòng.
Lấy cớ ta không tôn trọng hiệp ước năm 1874 vì đã giao thiệp với Trung Hoa, dung túng quân Cờ Đen ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng Hà và cấm đạo. Thống Đốc Hải Quân Pháp, Đại tá Henri Rivière cho mấy tàu chiến cùng 4000 quân ra đóng tại Đồn Thủy (trên bờ sông Hồng Hà phía Đông nằm sát Hà Nội) và cho quân lính đi phá rối, hăm dọa trên các đường phố.
Trước đó Hoàng Diệu đã dâng sớ lên vua Tự Đức đề nghị việc phòng chống giặc, vì theo ông Hà Nội là yết hầu của Bắc Kỳ và cũng là nơi then chốt của nước ta. Nếu Hà Nội mất thì các tỉnh khác sẽ mất theo, nhưng Vua Tự Đức làm thinh.
Đến khi Hà Nội bị uy hiếp, Hoàng Diệu một mặt xin triều đình Huế viện binh, một mặt ra lệnh giới nghiêm và thông báo các tỉnh đề phòng. Trong khi Hà Nội ở trong tình thế dầu sôi lữa bỏng thì phái chủ bại ở triều đình Huế đề nghị mở cửa thành cho quân Pháp ra vào tự do và triệt binh để giặc khỏi nghi ngờ. Ngay cả Vua Tự Đức cũng hạ chiếu quở trách ông đã đem binh dọa giặc…
Lúc bấy giờ, các quan xung quanh ông có Tuần Phủ Hoàng Hữu Xung, Đề Đốc Lê Văn Trinh, Bố Chánh Phan Văn Tuyển, Án Sát Tôn Thức Bá, và lãnh binh Lê Trực. Tất cả đã cùng nhau uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với thành.
Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhăm Ngọ, Henri Rivière sai thông dịch viên đưa tối hậu thư vào thành, buộc Hòng Diệu phải cho quân lính hạ hết khí giới, rời khỏi thành. Riêng ông cùng các quan phải ra nộp mình cho hắn.
Theo bản Corresponance politique du Commanant Henri Riviere au Tonkin của André Masson thì Henri Riviere buộc "Ðúng 8 giờ sáng ngài phải thân hành đến dinh tôi hàng phục, có mặt đông đủ các quan Tuần Phủ, Bố Chánh, Án sát, Đề Đốc, Chánh, Phó Lãnh Binh. Nếu đúng 8 giờ, Ngài và toàn thể thuộc viên của Ngài không đến Lãnh sự quán để tỏ vẻ chấp thuận những điều kiện của tôi, thì quân đội của tôi lập tức tấn công vào thành . . ."
Lệnh như vậy, nhưng Henri Rivière không chờ thư trả lời. Hắn cho tàu chiến bắn tới tấp vào thành rồi cho quân tiến lên. Tôn Thất Bá xin ra ngoài để giao thiệp với giặc một lần cuối .
Nào ngờ, vừa rời khỏi thang leoắc thang leo, Bá liền cho giặc biết cách bố trí của ta để giặc nổ súng. Rồi y một mặt dâng sớ lên Vua Tự Đức đổ tội cho Hoàng Diệu, một mặt xin với giặc cho y làm Tổng Đốc Hà Ninh.
Một trận kịch chiến xảy ra từ sáng đến trưa. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Hoàng Diệu đã anh dũng chiến đấu, giết chết hàng trăm tên giặc
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Cuộc chiến đang ác liệt thì bất ngờ kho thuốc súng nổ, lửa bốc cháy ngùn ngụt. Đám cháy càng lan rộng, tinh thần quân Việt càng hoang mang, hàng ngũ càng rối loạn. Quân giặc thừa cơ bắt thang trèo vào, phá cổng thành phía tây rồi ồ ạt kéo vào như nước chảy.
Bố Chánh Phan Văn Tuyển thấy thành lâm nguy bỏ chạy trước; Đề Đốc Lê Văn Trinh giả vờ tự tử; Phó Lãnh Binh Lê Trực cũng tháo lui; Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng bị Pháp bắt, nhịn ăn mấy bữa rồi ăn lại như thường. Duy chỉ có Thủy Sư Đề Đốc Nguyễn Đình Kháng liều chết cố thủ ở cửa thành phía nam cho đến giây phút cuối cùng.
Trong vòng khói lửa ngợp trời ấy, Hoàng Diệu, tay vẫn cầm thanh kiếm tuốt trần, hăng hái xông trong mưa đạn.
Đến khi tình thế quá nguy ngập,ông truyền lịnh: "Ai muốn về kinh thì về, còn ai muốn chiến đấu nữa thì lên Sơn Tây tập hợp với đại binh của Hoàng Kế Viêm chờ ngày báo phục".
Biết ba quân đã tìm được đường thoát thân, ông vào dinh viết bài di biểu tạ tội, rồi đi thẳng đến cửa Võ Miếu, cởi chiếc khăn đang bịt trên đầu, treo mình lên cành cây trước miếu mà tuẫn tiết đúng vào giờ Ngọ, tức ngày 25 tháng 4 năm 1882. Lúc ấy, ông mới 54 tuổi.
III. Ai ai cũng ca ngợi khí tiết của Hoàng Diệu :
Trước cái chết khí tiết của Hoàng Diệu, các giới sĩ phu, văn thân và nhân dân của cả nước, ai nấy cũng đều thương tiếc.
Riêng người dân Hà Nội, ngay hôm sau, nhiều người đã tụ họp lại, sắm sửa, khâm liệm cho ông thật tử tế, rồi mai táng tại khu vườn Dinh Đốc học (nay là địa điểm khách sạn Royal Star ở đường Trần Quý Cáp cạnh chợ Ngô Sĩ Liên, sau ga Hà Nội).
Hơn một tháng sau hai người con trai ông ra Hà Nội lo liệu đưa thi hài thân sinh về an táng ở quê quán vào mùa thu năm ấy.( Hiện nay khu lăng mộ Hoàng Diệu, theo quyết định ngày 25 tháng 1 năm 1994 của Bộ Văn hóa Thông tin, được công nhận là một di tích lịch sử - văn hóa của Việt Nam).
Điểm qua vài câu thơ, câu đối viết về ông :
Tôn Thất Thuyết, người đứng đầu phe “chủ chiến” đã ca ngợi ông trong hai câu đối:
"Nhất cử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm"
Dịch:
"Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước Bình sanh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm."
Trong bài thơ dài Hà thành Chánh khí ca, Ba Giai cũng đã hết lòng khen ngợi và thương tiếc ông, xin trích:
…Một cơn gió thảm mưa sầu,
Đốt nung gan sắt, giãi dầu lòng son,
Chữ trung còn chút con con,
Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây.
Trời cao, biển rộng, đất dày,
Non Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi!...
Vua Tự Đức mặc dầu có lần quở trách ông, nhưng vẫn phải hạ chiếu khen Hoàng Diệu đã tận trung tử tiết, và còn lệnh cho quan quân tỉnh Quảng Nam làm lễ quốc táng cho ông .
Sĩ phu Hà Thành lập đền thờ Hoàng Diệu ở phố Văn Tân, sau thờ chung với ông Nguyễn Tri Phương trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa với đôi câu đối:
"Thử thành quách, thử giang sơn
Bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh, vi hà nhạc
Thập niên tâm sự vọng thanh thiên"
Dịch:
"Kia thành quách, kia non sông
Trăm trận phong trần còn thước đất
Là trời sao, là sông núi
Mười năm tâm sự với trời xanh."
Cụ Phó bảng Nguyễn Trọng Tỉnh có bài thơ điếu Hoàng Diệu, ghi lại trong Lịch sử vua quan nhà Nguyễn của Phạm Khắc Hòe
Tay đã cầm bút lại cầm binh
Muôn dặm giang sơn nặng một minh
Thờ chúa, chúa lo, lo với chúa
Giữ thành, thành mất, mất theo thành
Suối vàng ắt hẳn mài gươm bạc
Lòng đỏ thôi đành gửi sử xanh
Di biểu nay còn sôi chính khí
Khiến người thêm trọng bút khoa danh
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tổng Đốc Hoàng Diệu
Tác giả: Bùi Thụy Đào Nguyên
Phần 1
Hà thành Chính khí ca : Tổng đốc Hoàng Diệu.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
“Ông ngoại tôi (Hoàng Diệu) làm đến Tổng đốc Hà Nội mà không có tiền lợp nổi cái nhà của ông bà để lại đã tróc ngói…”
.Phan Khôi
I. Tóm tắt tiểu sử:
Hoàng Diệu tên chữ là Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10-2 năm Kỷ Sửu (tức ngày 5-3-1829) tại làng Xuân Đài, nay thuộc xã Điện Quang, vùng Gò Nổi, Điện Bàn. Ông là một trong các nhà khoa bảng yêu nước ở đất Quảng.
Gia đình xuất thân nhà nông và theo nho học. Ông thân sinh là Hoàng Văn Cự làm hương chức, qua đời năm 54 tuổi. Bà thân mẫu Phạm Thị Khuê thọ 88 tuổi, tần tảo làm ruộng và chăn tằm, nuôi dạy con cái. Gia đình có 11 người con, 8 trai, 3 gái. Gần xa trong tỉnh, anh em Hoàng Diệu nổi tiếng hiếu học và học giỏi. Lớn lên 6 người đỗ đạt: một phó bảng, 3 cử nhân và 2 tú tài.
Khoa thi hương tại Thừa Thiên năm 1848, Hoàng Kim Giám, 23 tuổi và Hoàng Kim Tích, tức Hoàng Diệu, 20 tuổi cùng đỗ cử nhân. Hoàng Kim Giám không ra làm quan, qua đời năm 34 tuổi. Hoàng Diệu, 25 tuổi thi đình đỗ phó bảng (1853).
Trên các bước đường làm quan, theo Đại Nam chính biên liệt truyện, Hoàng Diệu được đánh giá là một vị quan "tính tình cương trực, thanh liêm, lâm sự quyết đoán, có phong độ bậc đại thần"…
Bởi thế cho nên, suốt 30 năm làm quan lớn ở nhiều nơi mà cảnh nhà vẫn thanh bạch, nghèo túng.
Một khía cạnh đáng quí khác nữa, đó là tại các nơi ông cai quản trật tự xã hội rất nghiêm minh, không có tình trạng nhũng lạm, trộm cướp hay chuyện áp bức dân lành.
Vua Tự Đức đã khen Hoàng Diệu rằng: "Chăm lo cho dân Bắc Hà, ngoài Hoàng Diệu ra không ai hơn"..
II. Thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai(1882):
Đầu năm 1880, Hoàng Diệu nhận chức tổng đốc Hà Ninh kiêm trông coi công việc thương chánh. Biết rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp lúc bấy giờ, Hoàng Diệu bắt tay ngay vào việc chuẩn bị chiến đấu, biên phòng. Năm 1882 thấy binh thuyền nước Pháp tự nhiên ra Bắc, ông e ngại lắm. Một mặt ông phái Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng ra tiếp, mặt khác ông lo chỉnh đốn thêm thành trì và quân ngũ để đề phòng.
Lấy cớ ta không tôn trọng hiệp ước năm 1874 vì đã giao thiệp với Trung Hoa, dung túng quân Cờ Đen ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng Hà và cấm đạo. Thống Đốc Hải Quân Pháp, Đại tá Henri Rivière cho mấy tàu chiến cùng 4000 quân ra đóng tại Đồn Thủy (trên bờ sông Hồng Hà phía Đông nằm sát Hà Nội) và cho quân lính đi phá rối, hăm dọa trên các đường phố.
Trước đó Hoàng Diệu đã dâng sớ lên vua Tự Đức đề nghị việc phòng chống giặc, vì theo ông Hà Nội là yết hầu của Bắc Kỳ và cũng là nơi then chốt của nước ta. Nếu Hà Nội mất thì các tỉnh khác sẽ mất theo, nhưng Vua Tự Đức làm thinh.
Đến khi Hà Nội bị uy hiếp, Hoàng Diệu một mặt xin triều đình Huế viện binh, một mặt ra lệnh giới nghiêm và thông báo các tỉnh đề phòng. Trong khi Hà Nội ở trong tình thế dầu sôi lữa bỏng thì phái chủ bại ở triều đình Huế đề nghị mở cửa thành cho quân Pháp ra vào tự do và triệt binh để giặc khỏi nghi ngờ. Ngay cả Vua Tự Đức cũng hạ chiếu quở trách ông đã đem binh dọa giặc…
Lúc bấy giờ, các quan xung quanh ông có Tuần Phủ Hoàng Hữu Xung, Đề Đốc Lê Văn Trinh, Bố Chánh Phan Văn Tuyển, Án Sát Tôn Thức Bá, và lãnh binh Lê Trực. Tất cả đã cùng nhau uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với thành.
Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhăm Ngọ, Henri Rivière sai thông dịch viên đưa tối hậu thư vào thành, buộc Hòng Diệu phải cho quân lính hạ hết khí giới, rời khỏi thành. Riêng ông cùng các quan phải ra nộp mình cho hắn.
Theo bản Corresponance politique du Commanant Henri Riviere au Tonkin của André Masson thì Henri Riviere buộc "Ðúng 8 giờ sáng ngài phải thân hành đến dinh tôi hàng phục, có mặt đông đủ các quan Tuần Phủ, Bố Chánh, Án sát, Đề Đốc, Chánh, Phó Lãnh Binh. Nếu đúng 8 giờ, Ngài và toàn thể thuộc viên của Ngài không đến Lãnh sự quán để tỏ vẻ chấp thuận những điều kiện của tôi, thì quân đội của tôi lập tức tấn công vào thành . . ."
Lệnh như vậy, nhưng Henri Rivière không chờ thư trả lời. Hắn cho tàu chiến bắn tới tấp vào thành rồi cho quân tiến lên. Tôn Thất Bá xin ra ngoài để giao thiệp với giặc một lần cuối .
Nào ngờ, vừa rời khỏi thang leoắc thang leo, Bá liền cho giặc biết cách bố trí của ta để giặc nổ súng. Rồi y một mặt dâng sớ lên Vua Tự Đức đổ tội cho Hoàng Diệu, một mặt xin với giặc cho y làm Tổng Đốc Hà Ninh.
Một trận kịch chiến xảy ra từ sáng đến trưa. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Hoàng Diệu đã anh dũng chiến đấu, giết chết hàng trăm tên giặc
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Cuộc chiến đang ác liệt thì bất ngờ kho thuốc súng nổ, lửa bốc cháy ngùn ngụt. Đám cháy càng lan rộng, tinh thần quân Việt càng hoang mang, hàng ngũ càng rối loạn. Quân giặc thừa cơ bắt thang trèo vào, phá cổng thành phía tây rồi ồ ạt kéo vào như nước chảy.
Bố Chánh Phan Văn Tuyển thấy thành lâm nguy bỏ chạy trước; Đề Đốc Lê Văn Trinh giả vờ tự tử; Phó Lãnh Binh Lê Trực cũng tháo lui; Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng bị Pháp bắt, nhịn ăn mấy bữa rồi ăn lại như thường. Duy chỉ có Thủy Sư Đề Đốc Nguyễn Đình Kháng liều chết cố thủ ở cửa thành phía nam cho đến giây phút cuối cùng.
Trong vòng khói lửa ngợp trời ấy, Hoàng Diệu, tay vẫn cầm thanh kiếm tuốt trần, hăng hái xông trong mưa đạn.
Đến khi tình thế quá nguy ngập,ông truyền lịnh: "Ai muốn về kinh thì về, còn ai muốn chiến đấu nữa thì lên Sơn Tây tập hợp với đại binh của Hoàng Kế Viêm chờ ngày báo phục".
Biết ba quân đã tìm được đường thoát thân, ông vào dinh viết bài di biểu tạ tội, rồi đi thẳng đến cửa Võ Miếu, cởi chiếc khăn đang bịt trên đầu, treo mình lên cành cây trước miếu mà tuẫn tiết đúng vào giờ Ngọ, tức ngày 25 tháng 4 năm 1882. Lúc ấy, ông mới 54 tuổi.
III. Ai ai cũng ca ngợi khí tiết của Hoàng Diệu :
Trước cái chết khí tiết của Hoàng Diệu, các giới sĩ phu, văn thân và nhân dân của cả nước, ai nấy cũng đều thương tiếc.
Riêng người dân Hà Nội, ngay hôm sau, nhiều người đã tụ họp lại, sắm sửa, khâm liệm cho ông thật tử tế, rồi mai táng tại khu vườn Dinh Đốc học (nay là địa điểm khách sạn Royal Star ở đường Trần Quý Cáp cạnh chợ Ngô Sĩ Liên, sau ga Hà Nội).
Hơn một tháng sau hai người con trai ông ra Hà Nội lo liệu đưa thi hài thân sinh về an táng ở quê quán vào mùa thu năm ấy.( Hiện nay khu lăng mộ Hoàng Diệu, theo quyết định ngày 25 tháng 1 năm 1994 của Bộ Văn hóa Thông tin, được công nhận là một di tích lịch sử - văn hóa của Việt Nam).
Điểm qua vài câu thơ, câu đối viết về ông :
Tôn Thất Thuyết, người đứng đầu phe “chủ chiến” đã ca ngợi ông trong hai câu đối:
"Nhất cử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm"
Dịch:
"Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước Bình sanh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm."
Trong bài thơ dài Hà thành Chánh khí ca, Ba Giai cũng đã hết lòng khen ngợi và thương tiếc ông, xin trích:
…Một cơn gió thảm mưa sầu,
Đốt nung gan sắt, giãi dầu lòng son,
Chữ trung còn chút con con,
Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây.
Trời cao, biển rộng, đất dày,
Non Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi!...
Vua Tự Đức mặc dầu có lần quở trách ông, nhưng vẫn phải hạ chiếu khen Hoàng Diệu đã tận trung tử tiết, và còn lệnh cho quan quân tỉnh Quảng Nam làm lễ quốc táng cho ông .
Sĩ phu Hà Thành lập đền thờ Hoàng Diệu ở phố Văn Tân, sau thờ chung với ông Nguyễn Tri Phương trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa với đôi câu đối:
"Thử thành quách, thử giang sơn
Bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh, vi hà nhạc
Thập niên tâm sự vọng thanh thiên"
Dịch:
"Kia thành quách, kia non sông
Trăm trận phong trần còn thước đất
Là trời sao, là sông núi
Mười năm tâm sự với trời xanh."
Cụ Phó bảng Nguyễn Trọng Tỉnh có bài thơ điếu Hoàng Diệu, ghi lại trong Lịch sử vua quan nhà Nguyễn của Phạm Khắc Hòe
Tay đã cầm bút lại cầm binh
Muôn dặm giang sơn nặng một minh
Thờ chúa, chúa lo, lo với chúa
Giữ thành, thành mất, mất theo thành
Suối vàng ắt hẳn mài gươm bạc
Lòng đỏ thôi đành gửi sử xanh
Di biểu nay còn sôi chính khí
Khiến người thêm trọng bút khoa danh
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Bá Lộc_đọc truyện sex hay việt
Trần Bá Lộc
Tác giả: Bùi Thụy Đào Nguyên
Trần Bá Lộc: cộng sự đắc lực của thực dân Pháp
Trần Bá Lộc (TBL) là người được xem như một tay sai đắc lực của thực dân Pháp trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân miền Trung & Nam Việt Nam những năm cuối thế kỷ 18. Nhưng ông cũng là người được nhắc đến với "công trình giao thông thủy và thủy lợi quan trọng đầu tiên ở vùng Đồng Tháp Mười .
Nhờ hệ thống kênh đào do Lộc chỉ huy , đã giúp việc giao thương nông sản , hàng hóa và tăng cường khả năng xả phèn , tiêu nước vào mùa lũ thêm tiện lợi...
Lúc đầu, chính quyền Pháp ở Nam kỳ rất dè dặt trước đề nghị của TBL , bởi vì theo họ Đồng Tháp Mười là "một cánh đồng không sinh lợi". Thế nhưng sau đó, giới cầm quyền Nam kỳ cũng chuẩn y kế hoạch của Lộc với hai điều kiện là kinh phí tự túc và chỉ đào thử nghiệm hai đoạn kinh dài 8 km, rộng 3 m. Sau khi đào thử nghiệm thành công, Pháp mới cho vay vốn để đào kênh rộng lớn hơn…
A.Tóm tắt thân thế Trần Bá Lộc :
Trần Bá Lộc (TBL) sinh năm K.hợi 1839-mất K.hợi 26.10 1899. Quê quán ở Cù lao Giêng (An Giang ) .Cha là Tú tài Trần Bá Phước , sinh sống ở Quảng Bình . Do những bất hòa trong gia tộc , năm 1829 ông Phước đã vào Nam mở trường dạy học tại cù lao vừa nêu trên .Mẹ TBL là Nguyễn Thị Ở , con gái của Phó Quản cơ Nguyễn Văn Thắng .
Năm 1859, khi Pháp bắt đầu tấn công Sài Gòn, TBL còn đang chèo ghe từ nơi ở đến Mỹ Tho bán cá cho quân đội Pháp .Sau nhờ quen biết giáo sĩ Marc ,Lộc được vào đội lính tập của Pháp, rồi được làm Cai tại Mỹ Tho (1861), Đội nhì (1862 , TBL làm việc dưới quyền Tham biện Philastre , người mà sau này là đồng tác giả hòa ước Giáp Tuất 1874. Philastre nhờ TBL dạy tiếng Hán nên cũng viết được vài tác phẩm về Nam kỳ thưở ấy ), Đội nhất (1864).Đến 19-7-1865 , được làm Tri huyện Kiến Phong (Cái Bè , Tiền Giang ) .
Do quá nhiều “công lao” nhờ đàn áp các cuộc nổi dậy( TBL cùng con là Trần Bá Thọ, cũng là Đốc phủ sứ ở Cái Bè , khét tiếng là “cọp Cái Bè”…) TBL được thăng Tri phủ (1867), Đốc phủ sứ (1868), Thuận Khánh Tổng đốc hàm (hàm Tổng đốc Bình Thuận –Khánh Hòa )
Khi những cuộc khỡi nghĩa ở Nam & Trung kỳ đã bị phá vỡ, ông về lại Cái Bè , chức danh trên bị thay là Tổng Đốc danh dự (honoraie) Cái Bè …
B.Vài tư liệu về Trần Bá Lộc :
1/ Trích “Sài Gòn năm xưa” của Vương Hồng Sển:
“TBL , người khô ráo dỏng dảy , môi mỏng , cặp mắt có sát khí . Ông ta bắt được địch thủ , nhứt quyết không cầm tù , chỉ chặt đầu y như quân lịnh : chém người như chém chuối , chém không chừa con đỏ .Chính Toàn quyền Paul Doumer còn phải hạ một câu xác đáng :Nếu muốn (nhơn nghĩa )…thì thà đừng sai hắn (TBL) cầm binh !”
Sau việc bắt giữ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân năm 1875 , ngày 26.5.1866 , Phó Đô Đốc Hải quân Pháp De La Grandirere khen ngợi TBL :
“ Hãy tiếp tục phụng sự nước Pháp , đất nước mà ông là một trong những đứa con đáng tự hào …”
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
2/ Chi tiết về việc TBL bắt Thủ khoa Huân :
TBL cho quân lính về phủ Bình Dương (Gia Định ) bắt cha mẹ, vợ con của Đốc binh Hương, là một thuộc hạ thân tín của Thủ khoa .Hương vì gia quyến nên tự trói mình ra hàng, rồi y bị Lộc buộc phải dẫn quân đi bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo vào ngày 15/05/1875 lúc ông này đang dự tính quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện.Trên đường, Huân định nhảy xuống một ao sâu tự tìm cái chết, nhưng tên Cang kịp cản ngăn .Sau Pháp đem giam ông tại Mỹ Tho rồi dùng mọi mưu chước chiêu hàng nhưng không thành. Ngày 19 tháng 5 năm 1875 chúng cho tàu chở ông theo dòng Bảo Định về quê Mỹ Tịnh An tại Bến Tranh để chém (12 giờ trưa). Năm ấy ông Huân 45 tuổi
(Sách Từ Điển Nhân vật lịch sửVN của Ng.Quyết Thắng &Ng. Bá Thế ghi:Ông Huân cắn lưỡi tự tử ngay tại pháp trường trước khi thực dân hành quyết !)
3 /TBL dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng :
Năm 1885, em ruột TBL tên Trần Bá Hựu , đang làm quan cai trị tại Long Thành &bạn của Hựu cũng là Đốc phủ Trần Tử Ca ở Hốc Môn .Cả hai đều bị nghĩa quân sát hại, khiến TBL càng thêm hiểm ác .Vào ngày 5.2.1886 , Lộc nhận lệnh đem quân lính đến Phú Yên và y nhanh chóng bắt được nhiều nồng cốt của nghĩa quân như Lê Thành Phương , Nguyễn Tấn Hanh , Lê Khanh , Bùi Điền, Nguyễn Tự Tân , Lê Trung Đình …; cuối cùng là lãnh tụ Thưởng đều sa vào tay Lộc và tất cả bị xử chém
(Căn cứ biểu do Tirant thiết lập ngày 11-6-1887 gửi Thống đốc Nam Kỳ (tư liệu số Aix11.929), viết: “Có ba đợt hành quyết: ngày 1-6 có 5 người, trong đó có Lê Khanh; ngày 7-6 có 12 người, trong đó có Mai Xuân Thưởng và Bùi Điền; ngày 12-6 có 9 người và ngày 13-6 có 1 người. Tổng cộng có 27 người bị hành quyết (Theo TS. Đinh Bá Hòa ,báo Bình Định)
4/ TBL dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Tứ Kiệt (1868-1871):
Căn cứ Đồng Tháp Mười bị vỡ và chủ tướng Võ Duy Dương không còn nữa, nhưng nghĩa quân vẫn giữ vững ý chí chiến đấu. Họ tản về các làng quê sinh sống và đợi thời cơ mới. Đó là trường hợp của các ông Nguyễn Thanh Long, Trần Công Thận, Trương Văn Rộng, Ngô Tấn Đước mà nhân dân gọi là “Tứ Kiệt ”.
Những hoạt động ngày càng mạnh mẽ của nghĩa quân như bí mật đột nhập vào trong thành Mỹ Tho đốt cháy kho lương thực, tiêu diệt 1 tên thủ kho, làm bị thương 3 tên khác vào đêm ngày 1.5.1868 .Như trận đốt cháy đồn Cai Lậy vào sáng ngày 24.12.1870 thu được nhiều chiến lợi phẩm … khiến cho thực dân hết sức lo ngại. Vì thế, Pháp đã ra lệnh cho TBL dẫn 1.200 quân,để tìm bắt “Tứ Kiệt” và tiêu diệt nghĩa quân.Cuối cùng,“Tứ Kiệt” cũng không thoát khỏi tay Lộc. Sau khi dụ hàng không thành, ngày 25 tháng Chạp năm Canh Ngọ (14-2-1871), “Bốn Ông” bị xử chém tại chợ Cai Lậy.( nguồn:www. tiengiang .gov.vn )
5/ TBL dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Võ Thiệp :
Từ ngày 10/3/1887, lực lượng Pháp và Trần Bá Lộc từ Phú Yên ra đàn áp phong trào Cần vương ở Bình Định . Nhằm “chia lửa”, Võ Thiệp, Nguyễn Thị Vân Đương chỉ huy nghĩa quân Phú Yên yểm trợ. Nhưng đến làng Quang Hiên, xã Nhơn Thành, huyện Tuy Phước thì lọt vào ổ phục kích .Đa số nghĩa quân đều hy sinh, Nguyễn Thị Vân Đương bị thương rơi vào tay đối phương . Võ Thiệp chạy thoát nhưng sau đó ông trở lại nhà lao Tuy Phước tìm cách cứu vợ và Võ Trứ đang bị giam giữ , thì bị địch phát hiện nên cả hai vợ chồng đều hy sinh tại chân núi Phụng Sơn, huyện Tuy Phước…
(Theo ThS. ĐÀO NHẬT KIM ,Hội Sử học Phú Yên)
C.Giai đoạn cuối đời của TBL :
-Gần cuối đời ,TBL mới làm được một việc có ý nghĩa cho quê nhà.Đó là vào những năm 1896-1897, Lộc cho đào hệ thống kênh dài, tổng cộng 103 Km ; trong đó có con kênh dài 47km, rộng 10 m, làm thành ranh giới giữa Vĩnh Long & Sa Đéc . Tháng 4.1897, đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer xuống khánh thành & từ đó nó được gọi là kênh “Tổng đốc Lộc” .
-Đối với những người bản xứ cộng tác với Pháp, viên Toàn quyền P. Doumer ưu ái Lộc hơn hết .Nên tháng 8. 1898, y cử Lộc vào Hội đồng tối cao Đông Dương , năm sau y lại cho Lộc tháp tùng thăm quốc vương Xiêm La (Thái Lan ).Vài tháng sau chuyến đi này , Lộc ngã bệnh nặng ,( biết sẽ chết Lộc căn dặn con cháu chôn y ở tư thế đứng (?)). P. Doumer có đến viếng thăm & khi Lộc mất , y đã ra lệnh làm lễ an táng thật to lớn !
-Sĩ phu vùng Cái Bè có câu liễn đối viếng như sau :
“Tả quân quốc ư lưỡng kì , Nam tảo Bắc trừ , thứ nhật niễu hùng nan dụng võ;
Bão lê dân ư Ngũ Hiệp , tư qui sinh kí , kiêm triêu chấp phất hận vô văn”
(Nghĩa :Giúp việc cho Pháp & triều đình Huế ; đánh phá trong Nam ngoài Bắc , ngày ấy niễu hùng (?) này hết đường dùng võ ; Cai trị dân Ngũ Hiệp ( 5 thôn ở Cái Bè ) , sống ở chết về , muốn nhắc đến công nghiệp mà không có cái văn nào tả xiết! )
- Về sau , người dân Cái Bè đốt cháy dinh thự nguy nga của TBL . Một nhà thơ tên Dị Nhơn Thị có thơ rằng :
Dám đem xương máu của đồng bào
Mà cất cái dinh thật lớn lao
Khói tỏa cung A , rằng chuyện cũ
Lửa thiêu dinh Bá , khác đâu nào !
“Phì da” quân đối “sơn hà cổ”
“Báo oán “ dân đồng “nhật nguyệt cao”
Nước sạch Cái Bè trong leo lẻo ,
Làm gương cho sách để về sau .
( Tư liệu của Lê Nguyễn trong Sách Xã hội VN thời Pháp thuộc ,nxb Văn hoáTT năm 2005. Trong sách này có ảnh của TBL )
(Bài đã được chuyển vào Tự điển bách khoa Wikipedia tiếng việt)
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: Bùi Thụy Đào Nguyên
Trần Bá Lộc: cộng sự đắc lực của thực dân Pháp
Trần Bá Lộc (TBL) là người được xem như một tay sai đắc lực của thực dân Pháp trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân miền Trung & Nam Việt Nam những năm cuối thế kỷ 18. Nhưng ông cũng là người được nhắc đến với "công trình giao thông thủy và thủy lợi quan trọng đầu tiên ở vùng Đồng Tháp Mười .
Nhờ hệ thống kênh đào do Lộc chỉ huy , đã giúp việc giao thương nông sản , hàng hóa và tăng cường khả năng xả phèn , tiêu nước vào mùa lũ thêm tiện lợi...
Lúc đầu, chính quyền Pháp ở Nam kỳ rất dè dặt trước đề nghị của TBL , bởi vì theo họ Đồng Tháp Mười là "một cánh đồng không sinh lợi". Thế nhưng sau đó, giới cầm quyền Nam kỳ cũng chuẩn y kế hoạch của Lộc với hai điều kiện là kinh phí tự túc và chỉ đào thử nghiệm hai đoạn kinh dài 8 km, rộng 3 m. Sau khi đào thử nghiệm thành công, Pháp mới cho vay vốn để đào kênh rộng lớn hơn…
A.Tóm tắt thân thế Trần Bá Lộc :
Trần Bá Lộc (TBL) sinh năm K.hợi 1839-mất K.hợi 26.10 1899. Quê quán ở Cù lao Giêng (An Giang ) .Cha là Tú tài Trần Bá Phước , sinh sống ở Quảng Bình . Do những bất hòa trong gia tộc , năm 1829 ông Phước đã vào Nam mở trường dạy học tại cù lao vừa nêu trên .Mẹ TBL là Nguyễn Thị Ở , con gái của Phó Quản cơ Nguyễn Văn Thắng .
Năm 1859, khi Pháp bắt đầu tấn công Sài Gòn, TBL còn đang chèo ghe từ nơi ở đến Mỹ Tho bán cá cho quân đội Pháp .Sau nhờ quen biết giáo sĩ Marc ,Lộc được vào đội lính tập của Pháp, rồi được làm Cai tại Mỹ Tho (1861), Đội nhì (1862 , TBL làm việc dưới quyền Tham biện Philastre , người mà sau này là đồng tác giả hòa ước Giáp Tuất 1874. Philastre nhờ TBL dạy tiếng Hán nên cũng viết được vài tác phẩm về Nam kỳ thưở ấy ), Đội nhất (1864).Đến 19-7-1865 , được làm Tri huyện Kiến Phong (Cái Bè , Tiền Giang ) .
Do quá nhiều “công lao” nhờ đàn áp các cuộc nổi dậy( TBL cùng con là Trần Bá Thọ, cũng là Đốc phủ sứ ở Cái Bè , khét tiếng là “cọp Cái Bè”…) TBL được thăng Tri phủ (1867), Đốc phủ sứ (1868), Thuận Khánh Tổng đốc hàm (hàm Tổng đốc Bình Thuận –Khánh Hòa )
Khi những cuộc khỡi nghĩa ở Nam & Trung kỳ đã bị phá vỡ, ông về lại Cái Bè , chức danh trên bị thay là Tổng Đốc danh dự (honoraie) Cái Bè …
B.Vài tư liệu về Trần Bá Lộc :
1/ Trích “Sài Gòn năm xưa” của Vương Hồng Sển:
“TBL , người khô ráo dỏng dảy , môi mỏng , cặp mắt có sát khí . Ông ta bắt được địch thủ , nhứt quyết không cầm tù , chỉ chặt đầu y như quân lịnh : chém người như chém chuối , chém không chừa con đỏ .Chính Toàn quyền Paul Doumer còn phải hạ một câu xác đáng :Nếu muốn (nhơn nghĩa )…thì thà đừng sai hắn (TBL) cầm binh !”
Sau việc bắt giữ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân năm 1875 , ngày 26.5.1866 , Phó Đô Đốc Hải quân Pháp De La Grandirere khen ngợi TBL :
“ Hãy tiếp tục phụng sự nước Pháp , đất nước mà ông là một trong những đứa con đáng tự hào …”
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
2/ Chi tiết về việc TBL bắt Thủ khoa Huân :
TBL cho quân lính về phủ Bình Dương (Gia Định ) bắt cha mẹ, vợ con của Đốc binh Hương, là một thuộc hạ thân tín của Thủ khoa .Hương vì gia quyến nên tự trói mình ra hàng, rồi y bị Lộc buộc phải dẫn quân đi bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo vào ngày 15/05/1875 lúc ông này đang dự tính quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện.Trên đường, Huân định nhảy xuống một ao sâu tự tìm cái chết, nhưng tên Cang kịp cản ngăn .Sau Pháp đem giam ông tại Mỹ Tho rồi dùng mọi mưu chước chiêu hàng nhưng không thành. Ngày 19 tháng 5 năm 1875 chúng cho tàu chở ông theo dòng Bảo Định về quê Mỹ Tịnh An tại Bến Tranh để chém (12 giờ trưa). Năm ấy ông Huân 45 tuổi
(Sách Từ Điển Nhân vật lịch sửVN của Ng.Quyết Thắng &Ng. Bá Thế ghi:Ông Huân cắn lưỡi tự tử ngay tại pháp trường trước khi thực dân hành quyết !)
3 /TBL dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng :
Năm 1885, em ruột TBL tên Trần Bá Hựu , đang làm quan cai trị tại Long Thành &bạn của Hựu cũng là Đốc phủ Trần Tử Ca ở Hốc Môn .Cả hai đều bị nghĩa quân sát hại, khiến TBL càng thêm hiểm ác .Vào ngày 5.2.1886 , Lộc nhận lệnh đem quân lính đến Phú Yên và y nhanh chóng bắt được nhiều nồng cốt của nghĩa quân như Lê Thành Phương , Nguyễn Tấn Hanh , Lê Khanh , Bùi Điền, Nguyễn Tự Tân , Lê Trung Đình …; cuối cùng là lãnh tụ Thưởng đều sa vào tay Lộc và tất cả bị xử chém
(Căn cứ biểu do Tirant thiết lập ngày 11-6-1887 gửi Thống đốc Nam Kỳ (tư liệu số Aix11.929), viết: “Có ba đợt hành quyết: ngày 1-6 có 5 người, trong đó có Lê Khanh; ngày 7-6 có 12 người, trong đó có Mai Xuân Thưởng và Bùi Điền; ngày 12-6 có 9 người và ngày 13-6 có 1 người. Tổng cộng có 27 người bị hành quyết (Theo TS. Đinh Bá Hòa ,báo Bình Định)
4/ TBL dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Tứ Kiệt (1868-1871):
Căn cứ Đồng Tháp Mười bị vỡ và chủ tướng Võ Duy Dương không còn nữa, nhưng nghĩa quân vẫn giữ vững ý chí chiến đấu. Họ tản về các làng quê sinh sống và đợi thời cơ mới. Đó là trường hợp của các ông Nguyễn Thanh Long, Trần Công Thận, Trương Văn Rộng, Ngô Tấn Đước mà nhân dân gọi là “Tứ Kiệt ”.
Những hoạt động ngày càng mạnh mẽ của nghĩa quân như bí mật đột nhập vào trong thành Mỹ Tho đốt cháy kho lương thực, tiêu diệt 1 tên thủ kho, làm bị thương 3 tên khác vào đêm ngày 1.5.1868 .Như trận đốt cháy đồn Cai Lậy vào sáng ngày 24.12.1870 thu được nhiều chiến lợi phẩm … khiến cho thực dân hết sức lo ngại. Vì thế, Pháp đã ra lệnh cho TBL dẫn 1.200 quân,để tìm bắt “Tứ Kiệt” và tiêu diệt nghĩa quân.Cuối cùng,“Tứ Kiệt” cũng không thoát khỏi tay Lộc. Sau khi dụ hàng không thành, ngày 25 tháng Chạp năm Canh Ngọ (14-2-1871), “Bốn Ông” bị xử chém tại chợ Cai Lậy.( nguồn:www. tiengiang .gov.vn )
5/ TBL dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Võ Thiệp :
Từ ngày 10/3/1887, lực lượng Pháp và Trần Bá Lộc từ Phú Yên ra đàn áp phong trào Cần vương ở Bình Định . Nhằm “chia lửa”, Võ Thiệp, Nguyễn Thị Vân Đương chỉ huy nghĩa quân Phú Yên yểm trợ. Nhưng đến làng Quang Hiên, xã Nhơn Thành, huyện Tuy Phước thì lọt vào ổ phục kích .Đa số nghĩa quân đều hy sinh, Nguyễn Thị Vân Đương bị thương rơi vào tay đối phương . Võ Thiệp chạy thoát nhưng sau đó ông trở lại nhà lao Tuy Phước tìm cách cứu vợ và Võ Trứ đang bị giam giữ , thì bị địch phát hiện nên cả hai vợ chồng đều hy sinh tại chân núi Phụng Sơn, huyện Tuy Phước…
(Theo ThS. ĐÀO NHẬT KIM ,Hội Sử học Phú Yên)
C.Giai đoạn cuối đời của TBL :
-Gần cuối đời ,TBL mới làm được một việc có ý nghĩa cho quê nhà.Đó là vào những năm 1896-1897, Lộc cho đào hệ thống kênh dài, tổng cộng 103 Km ; trong đó có con kênh dài 47km, rộng 10 m, làm thành ranh giới giữa Vĩnh Long & Sa Đéc . Tháng 4.1897, đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer xuống khánh thành & từ đó nó được gọi là kênh “Tổng đốc Lộc” .
-Đối với những người bản xứ cộng tác với Pháp, viên Toàn quyền P. Doumer ưu ái Lộc hơn hết .Nên tháng 8. 1898, y cử Lộc vào Hội đồng tối cao Đông Dương , năm sau y lại cho Lộc tháp tùng thăm quốc vương Xiêm La (Thái Lan ).Vài tháng sau chuyến đi này , Lộc ngã bệnh nặng ,( biết sẽ chết Lộc căn dặn con cháu chôn y ở tư thế đứng (?)). P. Doumer có đến viếng thăm & khi Lộc mất , y đã ra lệnh làm lễ an táng thật to lớn !
-Sĩ phu vùng Cái Bè có câu liễn đối viếng như sau :
“Tả quân quốc ư lưỡng kì , Nam tảo Bắc trừ , thứ nhật niễu hùng nan dụng võ;
Bão lê dân ư Ngũ Hiệp , tư qui sinh kí , kiêm triêu chấp phất hận vô văn”
(Nghĩa :Giúp việc cho Pháp & triều đình Huế ; đánh phá trong Nam ngoài Bắc , ngày ấy niễu hùng (?) này hết đường dùng võ ; Cai trị dân Ngũ Hiệp ( 5 thôn ở Cái Bè ) , sống ở chết về , muốn nhắc đến công nghiệp mà không có cái văn nào tả xiết! )
- Về sau , người dân Cái Bè đốt cháy dinh thự nguy nga của TBL . Một nhà thơ tên Dị Nhơn Thị có thơ rằng :
Dám đem xương máu của đồng bào
Mà cất cái dinh thật lớn lao
Khói tỏa cung A , rằng chuyện cũ
Lửa thiêu dinh Bá , khác đâu nào !
“Phì da” quân đối “sơn hà cổ”
“Báo oán “ dân đồng “nhật nguyệt cao”
Nước sạch Cái Bè trong leo lẻo ,
Làm gương cho sách để về sau .
( Tư liệu của Lê Nguyễn trong Sách Xã hội VN thời Pháp thuộc ,nxb Văn hoáTT năm 2005. Trong sách này có ảnh của TBL )
(Bài đã được chuyển vào Tự điển bách khoa Wikipedia tiếng việt)
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Khánh Dư_đọc truyện sex hay việt
Trần Khánh Dư
Tác giả: nhiều tác giả
Phiêu kỵ đại tướng quân Trần Khánh Dư
Trần Khánh Dư là người huyện Chí Linh (Hải Hưng), con của Thượng tướng Trần Phó Duyệt. Ông là người trong họ nhà vua nên được phong tước Nhân Huệ vương.
Ông đánh giặc có công, được vua yêu lập làm "Thiên tử nghĩa nam" (con nuôi vua). Sau lại phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi tử tước hầu tăng lên mãi đến Tử phục thượng vị hầu. Sau vì có lỗi với gia đình Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu gia sản. Ông phải lui về sống ở Chí Linh.
Một ngày tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282), Khánh Dư chở thuyền qua bến Bình Than, nhà vua trông thấy, trỏ vào thuyền bảo quan thị thần rằng: "Người kia có phải là Nhân Huệ vương không". Rồi lập tức sai người chở thuyền nhỏ đuổi theo. Người quân hiệu gọi: "Ông lái kia, vua sai đòi nhà ngươi". Khánh Dư nói: "Ông già là người buôn bán, có việc gì mà gọi đến". Quân hiệu về tâu thực như thế. Vua nói: "Đúng là Nhân Huệ vương rồi, nếu là người thường tất không dám nói thế". Vua lại sai đi gọi. Khánh Dư đến nơi, mặc áo ngắn, đội nón lá. Vua nói: "Nam nhi cực khổ đến thế là cùng". Vua xuống chiếu tha tội, ban cho áo ngự, vị thứ ngồi dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc đánh giặc. Ông có nhiều kế hay, đúng ý vua. Nhà vua cho phục chức cũ, lại phong làm Phó tướng quân.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba (1288), ông làm Phó tướng giữ Vân Đồn. Khi cánh quân thủy của bọn Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đến Vân Đồn, ông đem quân chặn đánh, không cản được giặc. Thượng hoàng nghe tin, sai bắt về kinh xử tội. Ông bảo với sứ rằng "lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội, nhưng xin hoãn vài ngày để tôi lập công chuộc tội, rồi sẽ chịu búa rìu cũng chưa muộn". Theo dự đoán của ông, quả nhiên mấy ngày sau, Trương Văn Hổ dẫn hơn 100 thuyền chở lương kéo đến. Ông đánh bắt sống được nhiều tù binh và lương thực khí giới không kể xiết. Quân Nguyên nghe tin mất hết lương thực, chỉ lo việc rút về, không còn chí chiến đấu nữa.
Trong số những quý tộc nhà Trần, Trần Khánh Dư là người không chỉ giỏi võ nghệ, lắm mưu lược, lập công lớn về quân sự mà ông còn có đầu óc thực tiễn, biết kinh doanh thương mại. Suốt thời gian bị bãi chức, ông về đất cũ của cha mình ở Chí Linh, làm nghề buôn than để sống. Tác giả các bộ sử cũ với quan điểm kinh tế truyền thống của phong kiến là trọng nghề gốc (nông nghiệp), khinh nghề ngọn (buôn bán) nên coi việc ông buôn than, bán nón là nghề "hèn mọn". Nhưng thực ra, ở thời Trần chưa hề có chính sách trọng nông ức thương, chưa hề có việc bao vây cấm đoán ngoại thương. Chính Trần Khánh Dư là người sớm thấy nguồn lợi lớn trong việc buôn bán.
Ông là vị tướng giỏi và cũng là người biết làm kinh tế. Khi là dân thường cũng như lúc làm tướng, ông đều tham gia hoạt động kinh doanh lưu thông hàng hóa. Đấy là điểm tiến bộ ở ông, một biểu hiện mới trong tầng lớp quan liêu vốn chỉ quen sống bám vào đặc quyền đặc lợi của mình, khinh thường lao động sản xuất và kinh doanh buôn bán.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
Phiêu kỵ đại tướng quân Trần Khánh Dư
Trần Khánh Dư là người huyện Chí Linh (Hải Hưng), con của Thượng tướng Trần Phó Duyệt. Ông là người trong họ nhà vua nên được phong tước Nhân Huệ vương.
Ông đánh giặc có công, được vua yêu lập làm "Thiên tử nghĩa nam" (con nuôi vua). Sau lại phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi tử tước hầu tăng lên mãi đến Tử phục thượng vị hầu. Sau vì có lỗi với gia đình Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu gia sản. Ông phải lui về sống ở Chí Linh.
Một ngày tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282), Khánh Dư chở thuyền qua bến Bình Than, nhà vua trông thấy, trỏ vào thuyền bảo quan thị thần rằng: "Người kia có phải là Nhân Huệ vương không". Rồi lập tức sai người chở thuyền nhỏ đuổi theo. Người quân hiệu gọi: "Ông lái kia, vua sai đòi nhà ngươi". Khánh Dư nói: "Ông già là người buôn bán, có việc gì mà gọi đến". Quân hiệu về tâu thực như thế. Vua nói: "Đúng là Nhân Huệ vương rồi, nếu là người thường tất không dám nói thế". Vua lại sai đi gọi. Khánh Dư đến nơi, mặc áo ngắn, đội nón lá. Vua nói: "Nam nhi cực khổ đến thế là cùng". Vua xuống chiếu tha tội, ban cho áo ngự, vị thứ ngồi dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc đánh giặc. Ông có nhiều kế hay, đúng ý vua. Nhà vua cho phục chức cũ, lại phong làm Phó tướng quân.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba (1288), ông làm Phó tướng giữ Vân Đồn. Khi cánh quân thủy của bọn Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đến Vân Đồn, ông đem quân chặn đánh, không cản được giặc. Thượng hoàng nghe tin, sai bắt về kinh xử tội. Ông bảo với sứ rằng "lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội, nhưng xin hoãn vài ngày để tôi lập công chuộc tội, rồi sẽ chịu búa rìu cũng chưa muộn". Theo dự đoán của ông, quả nhiên mấy ngày sau, Trương Văn Hổ dẫn hơn 100 thuyền chở lương kéo đến. Ông đánh bắt sống được nhiều tù binh và lương thực khí giới không kể xiết. Quân Nguyên nghe tin mất hết lương thực, chỉ lo việc rút về, không còn chí chiến đấu nữa.
Trong số những quý tộc nhà Trần, Trần Khánh Dư là người không chỉ giỏi võ nghệ, lắm mưu lược, lập công lớn về quân sự mà ông còn có đầu óc thực tiễn, biết kinh doanh thương mại. Suốt thời gian bị bãi chức, ông về đất cũ của cha mình ở Chí Linh, làm nghề buôn than để sống. Tác giả các bộ sử cũ với quan điểm kinh tế truyền thống của phong kiến là trọng nghề gốc (nông nghiệp), khinh nghề ngọn (buôn bán) nên coi việc ông buôn than, bán nón là nghề "hèn mọn". Nhưng thực ra, ở thời Trần chưa hề có chính sách trọng nông ức thương, chưa hề có việc bao vây cấm đoán ngoại thương. Chính Trần Khánh Dư là người sớm thấy nguồn lợi lớn trong việc buôn bán.
Ông là vị tướng giỏi và cũng là người biết làm kinh tế. Khi là dân thường cũng như lúc làm tướng, ông đều tham gia hoạt động kinh doanh lưu thông hàng hóa. Đấy là điểm tiến bộ ở ông, một biểu hiện mới trong tầng lớp quan liêu vốn chỉ quen sống bám vào đặc quyền đặc lợi của mình, khinh thường lao động sản xuất và kinh doanh buôn bán.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Khát Chân_đọc truyện sex hay việt
Trần Khát Chân
Tác giả: nhiều tác giả
Thượng tướng Trần Khát Chân
Ông thuộc dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, một danh tướng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông ở thế kỷ 13. Cũng theo sử cũ, Trần Bình Trọng thuộc dòng dõi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, người sáng lập nhà Tiền Lê thế kỷ 10. Như thế, Trần Khát Chân gốc họ Lê ở Châu Ái.
Văn bia xã Tương Mai ghi năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) cho biết ông sinh ngày Tân Sửu, tháng Chạp, năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370).
Năm Kỷ Tỵ (1389), quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hóa, Hồ Quý Ly đem quân đi chống cự. Bị thua, Quý Ly trốn về Thăng Long. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông bèn sai Trần Khát Chân làm tướng đem quân đi chặn đánh giặc đang theo đường sông Hồng tiến về Thăng Long. Ông "vâng mệnh, khảng khái rỏ nước mắt lạy tạ rồi ra đi". Thượng hoàng cảm động cũng khóc, lấy nước mắt tiễn đưa.
Quân Đại Việt đến Hoàng Giang thì gặp địch. Ông liệu nơi ấy không thể đánh nổi nên rút lui về phục binh ở ngã ba sông Hải Triều và sông Nhị Hà. Ngày 23 tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), thuyền địch đi qua đấy, ông tập trung hỏa pháo bắn vào thuyền vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga. Bồng Nga chết tại trận, quân Chiêm tan tác như rắn mất đầu, vội rút về nước không dám gây sự nữa. Chiến công này đã cứu Thăng Long khỏi tai họa bị tàn phá. Ông được phong làm Long Tiệp Bổng thần Nội vệ Thượng tướng, tước Vũ tiết quan Nội hầu và được ban thái ấp ở vùng Kẻ Mơ, phía nam kinh thành Thăng Long.
Năm 1399, thấy Hồ Quý Ly chuyên quyền, giết vua Trần Thuận Tông, ông cùng một số vương hầu nhà Trần mưu sát Hồ Quý Ly trong hội thề ở núi Đốn Sơn (xã Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc). Việc bị bại lộ, hơn 730 người bị giết. Người đời truyền rằng khi sắp bị chém, Trần Khát Chân gào thét ba tiếng. Chết qua ba ngày sắc mặt vẫn như còn sống.
Tại nơi ông bị hành hình, sau có đền thờ ở làng Phương Nhai và ở sườn núi Đốn Sơn. Ba tổng Cao Mật, Bỉnh Bút, Nam Cai có tới 29 làng cúng tế. ở Thăng Long, dân vùng Kẻ Mơ cũng lập đền thờ, tạc tượng đá, dựng bia ghi nhớ công đức của ông. Hiện nay, ở Hà Nội có đường phố mang tên Trần Khát Chân.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
Thượng tướng Trần Khát Chân
Ông thuộc dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, một danh tướng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông ở thế kỷ 13. Cũng theo sử cũ, Trần Bình Trọng thuộc dòng dõi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, người sáng lập nhà Tiền Lê thế kỷ 10. Như thế, Trần Khát Chân gốc họ Lê ở Châu Ái.
Văn bia xã Tương Mai ghi năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) cho biết ông sinh ngày Tân Sửu, tháng Chạp, năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370).
Năm Kỷ Tỵ (1389), quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hóa, Hồ Quý Ly đem quân đi chống cự. Bị thua, Quý Ly trốn về Thăng Long. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông bèn sai Trần Khát Chân làm tướng đem quân đi chặn đánh giặc đang theo đường sông Hồng tiến về Thăng Long. Ông "vâng mệnh, khảng khái rỏ nước mắt lạy tạ rồi ra đi". Thượng hoàng cảm động cũng khóc, lấy nước mắt tiễn đưa.
Quân Đại Việt đến Hoàng Giang thì gặp địch. Ông liệu nơi ấy không thể đánh nổi nên rút lui về phục binh ở ngã ba sông Hải Triều và sông Nhị Hà. Ngày 23 tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), thuyền địch đi qua đấy, ông tập trung hỏa pháo bắn vào thuyền vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga. Bồng Nga chết tại trận, quân Chiêm tan tác như rắn mất đầu, vội rút về nước không dám gây sự nữa. Chiến công này đã cứu Thăng Long khỏi tai họa bị tàn phá. Ông được phong làm Long Tiệp Bổng thần Nội vệ Thượng tướng, tước Vũ tiết quan Nội hầu và được ban thái ấp ở vùng Kẻ Mơ, phía nam kinh thành Thăng Long.
Năm 1399, thấy Hồ Quý Ly chuyên quyền, giết vua Trần Thuận Tông, ông cùng một số vương hầu nhà Trần mưu sát Hồ Quý Ly trong hội thề ở núi Đốn Sơn (xã Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc). Việc bị bại lộ, hơn 730 người bị giết. Người đời truyền rằng khi sắp bị chém, Trần Khát Chân gào thét ba tiếng. Chết qua ba ngày sắc mặt vẫn như còn sống.
Tại nơi ông bị hành hình, sau có đền thờ ở làng Phương Nhai và ở sườn núi Đốn Sơn. Ba tổng Cao Mật, Bỉnh Bút, Nam Cai có tới 29 làng cúng tế. ở Thăng Long, dân vùng Kẻ Mơ cũng lập đền thờ, tạc tượng đá, dựng bia ghi nhớ công đức của ông. Hiện nay, ở Hà Nội có đường phố mang tên Trần Khát Chân.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Minh Tông_đọc truyện sex hay việt
Trần Minh Tông
Tác giả: nhiều tác giả
TRẦN MINH TÔNG (1300-1357)
Hoàng đế và nhà văn Việt Nam triều Trần. Sinh ngày 04/09/1300. Nguyên quán làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định.
Là ông vua thứ 5 của nhà Trần. Con Trần Anh Tông, huý Trần Mạnh; miếu hiệu Minh Tông.
Năm 1314 ông lên ngôi. Triều đại ông tiếp tục củng cố cơ nghiệp và có những bước tốt đẹp về văn hóa, chính trị, tôn giáo. Ðặc biệt về nông nghiệp cũng phát triển thuận lợi, qua chính sách kêu gọi các vương hầu trả lại ruộng tư hữu đã lấn chiếm, giúp nông dân có ruộng cày.
Ông ở ngôi 15 năm (1314-1329) sau nhường ngôi cho con, làm Thái thượng hoàng cho đến lúc mất.
Ông mất ngày 10/03/1357 tại kinh thành Thăng long.
Tác phẩm chính:
Minh Tông thi tập: Quyển thơ này nay đã mất, chỉ còn sót 25 bài thơ chép rải rác trong "Việt Âm thi tập"
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
TRẦN MINH TÔNG (1300-1357)
Hoàng đế và nhà văn Việt Nam triều Trần. Sinh ngày 04/09/1300. Nguyên quán làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định.
Là ông vua thứ 5 của nhà Trần. Con Trần Anh Tông, huý Trần Mạnh; miếu hiệu Minh Tông.
Năm 1314 ông lên ngôi. Triều đại ông tiếp tục củng cố cơ nghiệp và có những bước tốt đẹp về văn hóa, chính trị, tôn giáo. Ðặc biệt về nông nghiệp cũng phát triển thuận lợi, qua chính sách kêu gọi các vương hầu trả lại ruộng tư hữu đã lấn chiếm, giúp nông dân có ruộng cày.
Ông ở ngôi 15 năm (1314-1329) sau nhường ngôi cho con, làm Thái thượng hoàng cho đến lúc mất.
Ông mất ngày 10/03/1357 tại kinh thành Thăng long.
Tác phẩm chính:
Minh Tông thi tập: Quyển thơ này nay đã mất, chỉ còn sót 25 bài thơ chép rải rác trong "Việt Âm thi tập"
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Nguyên Đán_đọc truyện sex hay việt
Trần Nguyên Đán
Tác giả: nhiều tác giả
Tiểu sử
Trần Nguyên Đán (1325-1390)
Nhà thơ Việt Nam, danh sĩ đời Trần. Hiệu Băng Hồ; là chắt của Trần Quang Khải và là ông ngoại Nguyễn Trãi. Quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định.
Vốn dòng tôn thất, ông được bổ dụng ngay từ trẻ; đời Dụ Tông làm Ngự sử đại phu; đời Nghệ Tông lên chức Tư Ðồ, tước Chương Túc Hầu.
Nhà Trần suy vi, ông rất lo lắng về mưu đồ của Hồ Quý Ly, nên thường cảnh giác nhà vua phải lưu tâm thái độ của Quý Ly. Ít lâu sau, ông trí sĩ, lui về ở Côn Sơn, kiến trúc vùng động Thanh Hư, sống ẩn dật từ năm 1385.
Năm 1390, ông mất, thọ 65 tuổi.
Thơ của Trần Nguyên Ðán chủ yếu là thơ giãy bày tâm sự. Lòng thương dân và cảm giác thấy mình bất lực đến trở thành vô dụng, ngay cả khi về ở ẩn , đã là nỗi dằn vặt trong ông; và điều đau xót ấy cũng là những tác phẩm hay nhất của ông.
Tác phẩm chính:
"Băng Hồ ngọc hác tập"
"Bách Thế thông kỷ"
Tác phẩm của ông đã mất mát phần lớn, hiện chỉ còn khoảng 51 bài thơ chép trong "Trích diễn thi tập", "Toàn Việt thi lục".
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
Tiểu sử
Trần Nguyên Đán (1325-1390)
Nhà thơ Việt Nam, danh sĩ đời Trần. Hiệu Băng Hồ; là chắt của Trần Quang Khải và là ông ngoại Nguyễn Trãi. Quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định.
Vốn dòng tôn thất, ông được bổ dụng ngay từ trẻ; đời Dụ Tông làm Ngự sử đại phu; đời Nghệ Tông lên chức Tư Ðồ, tước Chương Túc Hầu.
Nhà Trần suy vi, ông rất lo lắng về mưu đồ của Hồ Quý Ly, nên thường cảnh giác nhà vua phải lưu tâm thái độ của Quý Ly. Ít lâu sau, ông trí sĩ, lui về ở Côn Sơn, kiến trúc vùng động Thanh Hư, sống ẩn dật từ năm 1385.
Năm 1390, ông mất, thọ 65 tuổi.
Thơ của Trần Nguyên Ðán chủ yếu là thơ giãy bày tâm sự. Lòng thương dân và cảm giác thấy mình bất lực đến trở thành vô dụng, ngay cả khi về ở ẩn , đã là nỗi dằn vặt trong ông; và điều đau xót ấy cũng là những tác phẩm hay nhất của ông.
Tác phẩm chính:
"Băng Hồ ngọc hác tập"
"Bách Thế thông kỷ"
Tác phẩm của ông đã mất mát phần lớn, hiện chỉ còn khoảng 51 bài thơ chép trong "Trích diễn thi tập", "Toàn Việt thi lục".
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Nhân Tông_đọc truyện sex hay việt
Trần Nhân Tông
Tác giả: nhiều tác giả
Tiểu sử
Trần Nhân Tông (1279 - 1293)
Vua Thánh Tông có 3 người con: Thiên Thụy công chúa, Thái tử Khâm và Tả Thiên vương Đức Việp. Năm Kỷ Mão (1279), Thái tử Khâm kế vị ngôi vua, hiệu là Nhân Tông.
Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ngợi ca là vị anh hùng cứu nước. Thời gian Nhân Tông trị vì, nước Đại Việt đã trải qua những thử thách ghê gớm.
Ngay sau khi Nhân Tông lên ngôi vua, nhà Nguyên liền sai Lễ bộ thượng thư sang sứ Đại Việt. Sài Thung đến kinh thành, lên mặt kiêu ngạo, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh rồi cho người đưa thư trách vua Nhân Tông tự lập ngôi vua và đòi sang chầu thiên triều.
Vua sai đại thần ra tiếp, Thung không thèm đáp lễ, vua mời yến, hắn không thèm đến.
Năm Nhâm Ngọ (1282), vua Nguyên lại cho sứ sang dụ:
Nếu vua nước Nam không sang chầu được thì phải đưa vàng ngọc sang thay và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo tay , mỗi hạng 2 người.
Nhân Tông đành cho chú họ là Trần Di ái và bọn Lê Tuân, Lê Mục sang thay mình. Vua Nguyên bèn lập Trần Di ái làm An Nam quốc vương, Lê Mục làm làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư lệnh và Sài Thung dẫn 1000 quân đưa bọn ấy về nước. Hay tin, Nhân Tông sai tướng đem quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần. Sài Thung bị tên bắn mù một mắt, trốn chạy về nước, còn lũ Trần Di ái bị bắt, phải tội đồ làm lính. Thấy không thể thu phục được vua Trần, nhà Nguyên phải liên tiếp phát động 2 cuộc chiến tranh xâm lược vào các năm 1285 và 1287, toan làm cỏ nước Nam. Trong hai lần kháng chiến này, Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ kết chặt lòng dân, lãnh đạo nhân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi huy hoàng.
Sau 14 năm làm vua, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành thủy tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt nam. Nhân Tông thực sự là một triết gia lớn của Phật học, giúp triết học Phật giáo Việt Nam phát triển rực rỡ thể hiện được đầy đủ trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam. Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu và táo bạo. Theo sách Tam Tổ thực lục, một học trò hỏi NhânTông:
Như thế nào là Phật?
Nhân Tông đáp:
Như cám ở đáy cối.
Lần khác, một học trò hỏi:
Lúc giết người không để mất thì như thế nào?
Khắp toàn thân là can đảm – Nhân Tông đáp.
Anh hùng cứu nước, triết nhân, thi sĩ là phẩm chất kết hợp hài hòa trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, Nhân Tông có tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nhìn tinh tế, tao nhã. Vua từng viết:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
(Xã tắc hai lần mệt ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Trần Nhân Tông qua đời năm Mậu Thân (1308) tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử (Đông triều, Quảng Ninh).
Phụ lục
TRẦN NHÂN TÔNG (1258-1306)
Hoàng đế thư 3 nhà Trần, nhà Phật học và nhà thơ Việt Nam. Tên thật là Trần Khâm; miếu hiệu Nhân Tông. Cũng là nhà Phật học đứng đầu Trúc Lâm tam tổ, phái Thiền Tông Yên Tử. Là con trưởng vua Trần Thánh Tông. Sinh ngày 07/12/1858. Nguyên quán ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc Nam Định.
Năm 1278 ông lên ngôi, cùng với cha và các đại thần Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật...chấn chỉnh việc nước, vượt khó khăn, hai lần đánh tan quân Nguyên-Mông xâm lược (1285-1287)
Là người rất mực nhân ái, khoan hòa; triều đại ông nổi bật tinh thần quân dân đại đòan kết; nổi bật qua hai cuộc Hội nghị Diên Hồng và Bình Than.
Năm 1293, ông nhường ngôi cho con là Trần Thuyên (tức Anh Tông), làm Thái Thượng Hoàng, cùng con coi sóc việc chính trị. Ðến năm 1299, ông hoàn toàn phủi sạch trần tục, lên núi Yên Tử ẩn tu; pháp hiệu là Hương Vân đại đầu đà, khai sáng Thiền Tông phái Yên Tử, cũng gọi là phái Trúc Lâm. Ðược người đời tôn xưng là Ðiều Ngự giác hoàng.
Ông mất ngày 16/11/1308 tại Yên Tử.
Tác phẩm chính:
"Thiền lâm thuyết chủng ngữ lục"
"Tăng già toái sự"
"Thạch thất mỵ ngữ"
"Ðại lương hải ấn thi tập"
"Trần Nhân Tông thi tập"
Hiện nay các tác phẩm trên đã thất lạc; chỉ còn khoảng hơn 20 bài thơ chữ Hán và 1 bài phú Nôm "Cư trần lạc đạo" chép trong "Việt âm thi tập" và "Thiền tông bản hạnh".
Anh hùng dân tộc kiêm triết gia, thi sĩ
Trần Nhân Tông tên làm Khẩm, con trưởng Thánh Tông, sinh năm 1258, đúng năm Thái Tông và Thánh Tông đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ nhất.
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước. Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thời gian ấy, đất nước Đại Việt đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của giặc Nguyên-Mông.
Trong 2 lần kháng chiến, Trần Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ "kết chặt lòng dân", lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi huy hoàng. Qua 2 cuộc kháng chiến, Trần Nhân Tông đã tỏ rõ ông vừa là nhà chiến lược tài giỏi, vừa là vị tướng cầm quân dũng cảm ngoài chiến trường. Chính vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến năm 1285, khi quân ta đang còn ở thế không cân sức với đối phương, Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi chiến thuyền 2 câu thơ đầy khí phách và niềm tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân ta:
Cối kê cựu sự quân tu ký,
Hoan diễn do tồn thập vạn binh.
(Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn đang còn chục vạn quân).
Hai câu thơ này cùng với hai câu Nhân Tông viết bên lăng Trần Thái Tông tại Long Hưng (Thái Bình) lúc làm lễ dâng tù binh mừng chiến thắng lần thứ ba:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
(Xã tắc hai lần lao ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.)
đã đi vào lịch sử như một ký ức bất diệt về chiến công bình Nguyên năm 1285 và 1288, trong đó Nhân Tông là vị chủ soái.
Khi nhìn nhận nguyên nhân thắng lợi nhà Trần đã giành được trong sự nghiệp cứu nước. Trần Nhân Tông đã đánh giá cao vai trò của nhân dân lao động (thời đó sử cũ chép là gia nô, gia đồng). Ông cho rằng chính họ mới là những người trung thành với đất nước khi có giặc ngoại xâm. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua (Nhân Tông) ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp gia đồng của các vương hầu tất gọi rõ tên mà hỏi: "Chủ mày đâu?" và dặn dò các vệ sĩ không được thét đuổi. Khi về cung, vua bảo các quan hầu cận rằng: "Ngày thường có kẻ hầu cận hai bên, lúc Nhà nước hoạn nạn thì chỉ có bọn ấy đi theo thôi".
Sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Xét trên bình diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng. Ông là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam. Với phái Thiền Trúc Lâm mà Trần Nhân Tông là người đứng đầu, triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần đã phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam. Nét đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu, táo bạo. Sách Tam Tổ thực lục viết: "Một học trò hỏi Điều ngự Nhân Tông: "Như thế nào là Phật?" Nhân Tông đáp: "Như cám ở dưới cối". Hoặc, một lần học trò hỏi Nhân Tông: "Lúc giết người không để mắt thì như thế nào?" Đáp: "Khắp toàn thân là can đảm"...
Anh hùng cứu nước, triết nhân và thi sĩ, ba phẩm chất ấy kết hợp hài hòa với nhau trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, ông là người có một tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nhìn tinh tế, tao nhã, nhất là đối với cảnh vật thiên nhiên:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch đương biên,
Mục đồng địch lý ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiền man mác có dường không,
Theo lời kèn mục trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
(Thiên trường vãn vọng - Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Thơ Trần Nhân Tông, ngoài vẻ đẹp của một âm điệu hồn hậu, còn bao hàm một ý vị Thiền, gợi mở một thế giới tinh thần thanh khiết. Trong lịch sử thi ca Việt Nam, cây sáo thơ Trần Nhân Tông để lại một tiếng ngân trong đến thẳm sâu.
Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
Tiểu sử
Trần Nhân Tông (1279 - 1293)
Vua Thánh Tông có 3 người con: Thiên Thụy công chúa, Thái tử Khâm và Tả Thiên vương Đức Việp. Năm Kỷ Mão (1279), Thái tử Khâm kế vị ngôi vua, hiệu là Nhân Tông.
Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ngợi ca là vị anh hùng cứu nước. Thời gian Nhân Tông trị vì, nước Đại Việt đã trải qua những thử thách ghê gớm.
Ngay sau khi Nhân Tông lên ngôi vua, nhà Nguyên liền sai Lễ bộ thượng thư sang sứ Đại Việt. Sài Thung đến kinh thành, lên mặt kiêu ngạo, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh rồi cho người đưa thư trách vua Nhân Tông tự lập ngôi vua và đòi sang chầu thiên triều.
Vua sai đại thần ra tiếp, Thung không thèm đáp lễ, vua mời yến, hắn không thèm đến.
Năm Nhâm Ngọ (1282), vua Nguyên lại cho sứ sang dụ:
Nếu vua nước Nam không sang chầu được thì phải đưa vàng ngọc sang thay và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo tay , mỗi hạng 2 người.
Nhân Tông đành cho chú họ là Trần Di ái và bọn Lê Tuân, Lê Mục sang thay mình. Vua Nguyên bèn lập Trần Di ái làm An Nam quốc vương, Lê Mục làm làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư lệnh và Sài Thung dẫn 1000 quân đưa bọn ấy về nước. Hay tin, Nhân Tông sai tướng đem quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần. Sài Thung bị tên bắn mù một mắt, trốn chạy về nước, còn lũ Trần Di ái bị bắt, phải tội đồ làm lính. Thấy không thể thu phục được vua Trần, nhà Nguyên phải liên tiếp phát động 2 cuộc chiến tranh xâm lược vào các năm 1285 và 1287, toan làm cỏ nước Nam. Trong hai lần kháng chiến này, Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ kết chặt lòng dân, lãnh đạo nhân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi huy hoàng.
Sau 14 năm làm vua, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành thủy tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt nam. Nhân Tông thực sự là một triết gia lớn của Phật học, giúp triết học Phật giáo Việt Nam phát triển rực rỡ thể hiện được đầy đủ trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam. Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu và táo bạo. Theo sách Tam Tổ thực lục, một học trò hỏi NhânTông:
Như thế nào là Phật?
Nhân Tông đáp:
Như cám ở đáy cối.
Lần khác, một học trò hỏi:
Lúc giết người không để mất thì như thế nào?
Khắp toàn thân là can đảm – Nhân Tông đáp.
Anh hùng cứu nước, triết nhân, thi sĩ là phẩm chất kết hợp hài hòa trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, Nhân Tông có tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nhìn tinh tế, tao nhã. Vua từng viết:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
(Xã tắc hai lần mệt ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Trần Nhân Tông qua đời năm Mậu Thân (1308) tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử (Đông triều, Quảng Ninh).
Phụ lục
TRẦN NHÂN TÔNG (1258-1306)
Hoàng đế thư 3 nhà Trần, nhà Phật học và nhà thơ Việt Nam. Tên thật là Trần Khâm; miếu hiệu Nhân Tông. Cũng là nhà Phật học đứng đầu Trúc Lâm tam tổ, phái Thiền Tông Yên Tử. Là con trưởng vua Trần Thánh Tông. Sinh ngày 07/12/1858. Nguyên quán ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc Nam Định.
Năm 1278 ông lên ngôi, cùng với cha và các đại thần Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật...chấn chỉnh việc nước, vượt khó khăn, hai lần đánh tan quân Nguyên-Mông xâm lược (1285-1287)
Là người rất mực nhân ái, khoan hòa; triều đại ông nổi bật tinh thần quân dân đại đòan kết; nổi bật qua hai cuộc Hội nghị Diên Hồng và Bình Than.
Năm 1293, ông nhường ngôi cho con là Trần Thuyên (tức Anh Tông), làm Thái Thượng Hoàng, cùng con coi sóc việc chính trị. Ðến năm 1299, ông hoàn toàn phủi sạch trần tục, lên núi Yên Tử ẩn tu; pháp hiệu là Hương Vân đại đầu đà, khai sáng Thiền Tông phái Yên Tử, cũng gọi là phái Trúc Lâm. Ðược người đời tôn xưng là Ðiều Ngự giác hoàng.
Ông mất ngày 16/11/1308 tại Yên Tử.
Tác phẩm chính:
"Thiền lâm thuyết chủng ngữ lục"
"Tăng già toái sự"
"Thạch thất mỵ ngữ"
"Ðại lương hải ấn thi tập"
"Trần Nhân Tông thi tập"
Hiện nay các tác phẩm trên đã thất lạc; chỉ còn khoảng hơn 20 bài thơ chữ Hán và 1 bài phú Nôm "Cư trần lạc đạo" chép trong "Việt âm thi tập" và "Thiền tông bản hạnh".
Anh hùng dân tộc kiêm triết gia, thi sĩ
Trần Nhân Tông tên làm Khẩm, con trưởng Thánh Tông, sinh năm 1258, đúng năm Thái Tông và Thánh Tông đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ nhất.
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước. Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thời gian ấy, đất nước Đại Việt đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của giặc Nguyên-Mông.
Trong 2 lần kháng chiến, Trần Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ "kết chặt lòng dân", lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi huy hoàng. Qua 2 cuộc kháng chiến, Trần Nhân Tông đã tỏ rõ ông vừa là nhà chiến lược tài giỏi, vừa là vị tướng cầm quân dũng cảm ngoài chiến trường. Chính vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến năm 1285, khi quân ta đang còn ở thế không cân sức với đối phương, Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi chiến thuyền 2 câu thơ đầy khí phách và niềm tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân ta:
Cối kê cựu sự quân tu ký,
Hoan diễn do tồn thập vạn binh.
(Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn đang còn chục vạn quân).
Hai câu thơ này cùng với hai câu Nhân Tông viết bên lăng Trần Thái Tông tại Long Hưng (Thái Bình) lúc làm lễ dâng tù binh mừng chiến thắng lần thứ ba:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
(Xã tắc hai lần lao ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.)
đã đi vào lịch sử như một ký ức bất diệt về chiến công bình Nguyên năm 1285 và 1288, trong đó Nhân Tông là vị chủ soái.
Khi nhìn nhận nguyên nhân thắng lợi nhà Trần đã giành được trong sự nghiệp cứu nước. Trần Nhân Tông đã đánh giá cao vai trò của nhân dân lao động (thời đó sử cũ chép là gia nô, gia đồng). Ông cho rằng chính họ mới là những người trung thành với đất nước khi có giặc ngoại xâm. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua (Nhân Tông) ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp gia đồng của các vương hầu tất gọi rõ tên mà hỏi: "Chủ mày đâu?" và dặn dò các vệ sĩ không được thét đuổi. Khi về cung, vua bảo các quan hầu cận rằng: "Ngày thường có kẻ hầu cận hai bên, lúc Nhà nước hoạn nạn thì chỉ có bọn ấy đi theo thôi".
Sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Xét trên bình diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng. Ông là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam. Với phái Thiền Trúc Lâm mà Trần Nhân Tông là người đứng đầu, triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần đã phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam. Nét đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu, táo bạo. Sách Tam Tổ thực lục viết: "Một học trò hỏi Điều ngự Nhân Tông: "Như thế nào là Phật?" Nhân Tông đáp: "Như cám ở dưới cối". Hoặc, một lần học trò hỏi Nhân Tông: "Lúc giết người không để mắt thì như thế nào?" Đáp: "Khắp toàn thân là can đảm"...
Anh hùng cứu nước, triết nhân và thi sĩ, ba phẩm chất ấy kết hợp hài hòa với nhau trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, ông là người có một tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nhìn tinh tế, tao nhã, nhất là đối với cảnh vật thiên nhiên:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch đương biên,
Mục đồng địch lý ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiền man mác có dường không,
Theo lời kèn mục trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
(Thiên trường vãn vọng - Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Thơ Trần Nhân Tông, ngoài vẻ đẹp của một âm điệu hồn hậu, còn bao hàm một ý vị Thiền, gợi mở một thế giới tinh thần thanh khiết. Trong lịch sử thi ca Việt Nam, cây sáo thơ Trần Nhân Tông để lại một tiếng ngân trong đến thẳm sâu.
Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Nhật Duật_đọc truyện sex hay việt
Trần Nhật Duật
Tác giả: nhiều tác giả
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật
Ông là con thứ 6 của Trần Thái Tông, sinh tháng 4 năm ất Mão (1255) tại hoàng cung Thăng Long. 30 năm sau, tháng 4 năm ất Dậu , ông trở thành người anh hùng trong trận Hàm Tử nổi tiếng.
Sử cũ truyền rằng, khi ông sinh ra, ở cánh tay có chữ Chiêu Văn đồng tử , Nhà vua bèn lấy chữ đó đặt tên hiệu cho ông. Lúc lớn lên, ông rất thông minh, có tiếng là người học rộng, hiểu biết nhiều lĩnh vực tri thức.
Những văn thư của triều đình phần nhiều do ông thảo.Vua Anh Tông có hai mũ võ, tức là mũ để đội trong khi duyệt giảng võ mà chưa biết đặt tên là gì. Khi Anh Tông đi đánh Chiêm Thành, định đội để đi, sai Trần Nhật Duật đặt tên, ông bèn đặt một cái là Uy Vũ, một cái là Uy Đức. Những tiết tấu âm nhạc, khúc điệu múa hát đều do ông làm ra. Tiếc rằng những sáng tác âm nhạc của ông đều không còn đến ngày nay.
Ông thông hiểu tiếng nói và phong tục của nhiều dân tộc trong và ngoài nước. Người nước ngoài đến kinh đô, nếu là người Tống ông ngồi ghế đối diện, đàm luận cả ngày; là người Chiêm hay các dân tộc khác thì tùy theo quốc tục của họ mà tiếp đãi. Sứ của nước Sách Mã Tích (không rõ nay là nước nào) sang cống, không tìm được người thông dịch, duy chỉ có ông dịch được. Mỗi khi tiếp sứ Nguyên, ông đều nói chuyện trực tiếp, không mượn người phiên dịch. Sứ giả tưởng ông là người Chân Định (Trung Quốc) sang làm quan Đại Việt. Trần Nhân Tôn (cháu của Trần Nhật Duật) thường nói: chú Chiêu Văn có lẽ là kiếp sau của người phiên lạc nên nói được tiếng các nước .
Năm Canh Thìn (1380), thổ tù ở đạo Đà Giang là Trịnh Giác Mật tụ tập đồ đảng cướp bóc dân chúng. Bấy giờ, Trần Nhật Duật trông coi đạo Đà Giang, lĩnh mệnh triều đình đến dụ hàng. Giác Mật nghe tin, cho người đến nói: "Mật không dám trái lệnh. Nếu ân chúa đi ngựa một mình đến thì Mật xin hàng . Ông nhận lời, chỉ đem theo vài tiểu đồng đi theo đến trại Mật. Ông dùng tiếng nói của họ để đối đáp, lại cùng với Mật ăn bằng tay, uống bằng mũi. Mật thích lắm, đem gia thuộc xin hàng. Mọi người đều thỏa dạ và kính phục Trần Nhật Duật, không mất một mũi tên mà bình được Đà Giang.
Năm ất Dậu(1285), quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Trần nhật Duật bấy giờ đang trấn thủ Tuyên Quang. Trước thế mạnh của quân giặc từ Vân Nam xuống tiến đánh quân Đại Việt ở trại Thu Vật, Tuyên Quang, ông đã thực hiện cuộc rút lui chiến lược theo con đường từ Yên Bình về Bạch Hạc rồi vượt qua vùng các dân tộc thiểu số rút về chỗ vua Trần đóng quân.
Cuối tháng 4 năm ấy, ông lập chiến công vang dội ở trận Hàm Tử. Giặc bị thiệt hại nặng, bỏ chạy tan tác. Chép về trận này, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng "công đánh giặc Nguyên, Nhật Duật lập được nhiều hơn cả .
Năm Nhâm Dần(1302), vua Trần Anh Tông phong Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật làm Thái úy Quốc công cùng vua trông coi việc nước. Đến đời Minh Tông năm Giáp Tý(1324) phong Tá thánh Thái sư, năm Kỷ tỵ(1329) lại phong Đại vương.
Ông là người làm việc giỏi, ngay thẳng. Vợ ông là Trinh có lần nhờ ông một việc riêng. Ông gật đầu, nhưng đến khi ra phủ, người thư ký đem việc ấy ra trình, ông không cho.
Trần Nhật Duật là người nhã nhặn, độ lượng, khoan dung, mừng giận không lộ ra sắc mặt. Trong nhà không chứa roi vọt để đánh gia nô.
Một lần có kẻ kiện gia tỳ của ông với Quốc phủ (tức Trần Quốc Tuấn). Quốc phủ sai người đến bắt. Người gia tỳ chạy vào trong phủ. Người đi bắt đuổi đến giữa nhà, bắt trói ầm ỹ. Phu nhân khóc, nói: Ông là tể tướng mà Bình chương cũng là tể tướng, chỉ vì ông nhu quá nên người ta mới khinh rẻ đến thế". Ông vẫn tự nhiên, chẳng nói gì, sai người bảo gia tỳ rằng: "Mày cứ ra, đâu đâu cũng đều có phép nước .
Ông mất năm Canh Ngọ (1330) đời Trần Hiến Tông, thọ 77 tuổi. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với chặng đường vinh quang nhất của triều Trần.
Phụ lục
Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật (1253-1330) con trai thứ tư của Trần Thái Tông, người có công lớn trong việc chỉ huy quân Trần đánh thắng giặc Nguyên, từng được phong Thái úy quốc công với Chiêu Văn dại vương, từ bé đã nổi tiếng là ông hoàng hiếu học và "sớm lộ thiên tri, ham thích hiểu biết về các tiếng nói và các giống người". Có thể nói, tuổi trẻ của Trần Nhật Duật là những năm tháng miệt mài rèn luyện để trở thành tài. Vì vậy, Nhật Duật nổi tiếng hiểu nhiều biết rộng. Uy tín của vị vương còn vang dội cả nước ngoài do sự hiểu biết sâu rộng về các nước láng giềng. Học tiếng Tống và tiếng Chiêm Thành, Nhật Duật chẳng những sử dụng thành thạo các ngôn ngữ ấy mà còn am hiểu nhiều mặt của các nước đó, kể cả phong tục tập quán của họ. Đối với các dân tộc trong nước, Nhật Duật không những hiểu tiếng mà còn hiểu cả người.
Mới ngoài 20 tuổi, Nhật Duật đã được triều đình nhà Trần giao đặc trách những công việc về các dân tộc có liên quan. Vua Nhân Tông thán phục, thường nói đùa: "Chiêu Văn vương có lẽ không phải người Việt mà là hậu thân của giống Phiên, Man". Tiếp xúc với các sứ thần triều Nguyễn, có lần Nhật Duật đã vui vẻ, tự nhiên trò chuyện suốt cả một ngày, khến cho sứ Nguyễn cho rằng Nhật Duật là người Hán ở Châu Định (gần Bắc Kinh) sang làm quan bên Đại Việt. Hiển nhiên, Nhật Duật phải khổ học công phu và hết sức kiên trì mới đạt được kết quả ấy. Câu chuyện sau đây tỏ rõ Nhật Duật chẳng những chỉ giỏi các thứ tiếng mà là một nhà dân tộc học lỗi lạc.
Ngày ấy, vua quan Triều thần được tin chúa đạo Đà Giang (thuộc miền Tây Bắc ngày nay) Trịnh Giác Mật tụ họp phe đảng nổi lên nổi lên cự lại triều đình. Tin dữ trong nước đến cùng lúc nhà Nguyên đang sửa soạn đại binh đánh Đại Việt. Cần phải dẹp ngay mối bất hòa trong nước . Người đảm đang trọng trách này không ai hơn Trần Nhật Duật. Thế là vị vương trẻ 27 tuổi dưới cờ hiệu "Trấn thủ Đà Giang" làm lễ ra quân lên đường.
Hay tin, chúa Đà Giang họp đám hầu mục bàn kế cự chiến. Trịnh Giác mật định ám hại viên tướng trẻ triều Trần nên sai người đưa thư dụ Nhật Duật: "Giác Mật không dám trái lệnh triều đình. Nếu ân chủ một mình một ngựa đến, Giác Mật xin ra hàng ngay". Muốn thu phục được Giác Mật, Nhật Duật mặc các tướng can ngăn, một mình một ngựa đến trại Giác Mật, chỉ mang theo mấy tiểu đồng cắp tráp đi hầu. Thản nhiên đi giữa lớp lớp gươm giáo và đám lính sắc phục kỳ dị cố ý phô trương uy hiếp của Giác Mật, Nhật Duật nói với chúa đạo bằng chính ngôn ngữ và theo đúng phong tục của dân tộc Đà Giang:
-Lũ tiểu đồng của ta khi đi đường thì nóng tai trái, vào đây thì nóng tai phải.
Từ Giác Mật đến các đầu mục đều sững sờ kinh ngạc trước sự am hiểu tiếng nói và tục lệ của Nhật Duật. Rồi mâm rượu được bưng lên. Chúa đạo nheo mắt thách thức, đưa tay mời, Chỉ có quả bầu cắt đôi sóng sánh rượu và dĩa thịt nai muối. Nhật Duật không chút ngần ngại cầm thịt ăn rồi vừa nhai vừa ngửa mặt, cầm gáo rượu bầu từ từ dốc vào mũi hết sức thành thạo.
Trịnh Giác Mật kinh ngạc thốt lên: "Chiêu Văn Vương là anh em với ta".
Nhật Duật từ tốn: "chúng ta xưa nay vẫn là anh em". Rồi sau đấy, theo lệnh Nhật Duật, tiểu đồng mở tráp lấy ra những chiếc vòng bạc sáng lóa trao cho từng đầu mục Đà Giang. Những người cầm đầu đạo Đà Giang chỉ còn biết: hoan hỉ đón lấy tặng phẩm kết nghĩa theo đúng tục lệ của họ từ tay viên tướng triều đình mà họ vừa nhận làm anh em. Chúa đạo Đà Giang đã quy thuận. Sức mạnh của dân tộc như được nhân lên.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật
Ông là con thứ 6 của Trần Thái Tông, sinh tháng 4 năm ất Mão (1255) tại hoàng cung Thăng Long. 30 năm sau, tháng 4 năm ất Dậu , ông trở thành người anh hùng trong trận Hàm Tử nổi tiếng.
Sử cũ truyền rằng, khi ông sinh ra, ở cánh tay có chữ Chiêu Văn đồng tử , Nhà vua bèn lấy chữ đó đặt tên hiệu cho ông. Lúc lớn lên, ông rất thông minh, có tiếng là người học rộng, hiểu biết nhiều lĩnh vực tri thức.
Những văn thư của triều đình phần nhiều do ông thảo.Vua Anh Tông có hai mũ võ, tức là mũ để đội trong khi duyệt giảng võ mà chưa biết đặt tên là gì. Khi Anh Tông đi đánh Chiêm Thành, định đội để đi, sai Trần Nhật Duật đặt tên, ông bèn đặt một cái là Uy Vũ, một cái là Uy Đức. Những tiết tấu âm nhạc, khúc điệu múa hát đều do ông làm ra. Tiếc rằng những sáng tác âm nhạc của ông đều không còn đến ngày nay.
Ông thông hiểu tiếng nói và phong tục của nhiều dân tộc trong và ngoài nước. Người nước ngoài đến kinh đô, nếu là người Tống ông ngồi ghế đối diện, đàm luận cả ngày; là người Chiêm hay các dân tộc khác thì tùy theo quốc tục của họ mà tiếp đãi. Sứ của nước Sách Mã Tích (không rõ nay là nước nào) sang cống, không tìm được người thông dịch, duy chỉ có ông dịch được. Mỗi khi tiếp sứ Nguyên, ông đều nói chuyện trực tiếp, không mượn người phiên dịch. Sứ giả tưởng ông là người Chân Định (Trung Quốc) sang làm quan Đại Việt. Trần Nhân Tôn (cháu của Trần Nhật Duật) thường nói: chú Chiêu Văn có lẽ là kiếp sau của người phiên lạc nên nói được tiếng các nước .
Năm Canh Thìn (1380), thổ tù ở đạo Đà Giang là Trịnh Giác Mật tụ tập đồ đảng cướp bóc dân chúng. Bấy giờ, Trần Nhật Duật trông coi đạo Đà Giang, lĩnh mệnh triều đình đến dụ hàng. Giác Mật nghe tin, cho người đến nói: "Mật không dám trái lệnh. Nếu ân chúa đi ngựa một mình đến thì Mật xin hàng . Ông nhận lời, chỉ đem theo vài tiểu đồng đi theo đến trại Mật. Ông dùng tiếng nói của họ để đối đáp, lại cùng với Mật ăn bằng tay, uống bằng mũi. Mật thích lắm, đem gia thuộc xin hàng. Mọi người đều thỏa dạ và kính phục Trần Nhật Duật, không mất một mũi tên mà bình được Đà Giang.
Năm ất Dậu(1285), quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Trần nhật Duật bấy giờ đang trấn thủ Tuyên Quang. Trước thế mạnh của quân giặc từ Vân Nam xuống tiến đánh quân Đại Việt ở trại Thu Vật, Tuyên Quang, ông đã thực hiện cuộc rút lui chiến lược theo con đường từ Yên Bình về Bạch Hạc rồi vượt qua vùng các dân tộc thiểu số rút về chỗ vua Trần đóng quân.
Cuối tháng 4 năm ấy, ông lập chiến công vang dội ở trận Hàm Tử. Giặc bị thiệt hại nặng, bỏ chạy tan tác. Chép về trận này, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng "công đánh giặc Nguyên, Nhật Duật lập được nhiều hơn cả .
Năm Nhâm Dần(1302), vua Trần Anh Tông phong Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật làm Thái úy Quốc công cùng vua trông coi việc nước. Đến đời Minh Tông năm Giáp Tý(1324) phong Tá thánh Thái sư, năm Kỷ tỵ(1329) lại phong Đại vương.
Ông là người làm việc giỏi, ngay thẳng. Vợ ông là Trinh có lần nhờ ông một việc riêng. Ông gật đầu, nhưng đến khi ra phủ, người thư ký đem việc ấy ra trình, ông không cho.
Trần Nhật Duật là người nhã nhặn, độ lượng, khoan dung, mừng giận không lộ ra sắc mặt. Trong nhà không chứa roi vọt để đánh gia nô.
Một lần có kẻ kiện gia tỳ của ông với Quốc phủ (tức Trần Quốc Tuấn). Quốc phủ sai người đến bắt. Người gia tỳ chạy vào trong phủ. Người đi bắt đuổi đến giữa nhà, bắt trói ầm ỹ. Phu nhân khóc, nói: Ông là tể tướng mà Bình chương cũng là tể tướng, chỉ vì ông nhu quá nên người ta mới khinh rẻ đến thế". Ông vẫn tự nhiên, chẳng nói gì, sai người bảo gia tỳ rằng: "Mày cứ ra, đâu đâu cũng đều có phép nước .
Ông mất năm Canh Ngọ (1330) đời Trần Hiến Tông, thọ 77 tuổi. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với chặng đường vinh quang nhất của triều Trần.
Phụ lục
Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật (1253-1330) con trai thứ tư của Trần Thái Tông, người có công lớn trong việc chỉ huy quân Trần đánh thắng giặc Nguyên, từng được phong Thái úy quốc công với Chiêu Văn dại vương, từ bé đã nổi tiếng là ông hoàng hiếu học và "sớm lộ thiên tri, ham thích hiểu biết về các tiếng nói và các giống người". Có thể nói, tuổi trẻ của Trần Nhật Duật là những năm tháng miệt mài rèn luyện để trở thành tài. Vì vậy, Nhật Duật nổi tiếng hiểu nhiều biết rộng. Uy tín của vị vương còn vang dội cả nước ngoài do sự hiểu biết sâu rộng về các nước láng giềng. Học tiếng Tống và tiếng Chiêm Thành, Nhật Duật chẳng những sử dụng thành thạo các ngôn ngữ ấy mà còn am hiểu nhiều mặt của các nước đó, kể cả phong tục tập quán của họ. Đối với các dân tộc trong nước, Nhật Duật không những hiểu tiếng mà còn hiểu cả người.
Mới ngoài 20 tuổi, Nhật Duật đã được triều đình nhà Trần giao đặc trách những công việc về các dân tộc có liên quan. Vua Nhân Tông thán phục, thường nói đùa: "Chiêu Văn vương có lẽ không phải người Việt mà là hậu thân của giống Phiên, Man". Tiếp xúc với các sứ thần triều Nguyễn, có lần Nhật Duật đã vui vẻ, tự nhiên trò chuyện suốt cả một ngày, khến cho sứ Nguyễn cho rằng Nhật Duật là người Hán ở Châu Định (gần Bắc Kinh) sang làm quan bên Đại Việt. Hiển nhiên, Nhật Duật phải khổ học công phu và hết sức kiên trì mới đạt được kết quả ấy. Câu chuyện sau đây tỏ rõ Nhật Duật chẳng những chỉ giỏi các thứ tiếng mà là một nhà dân tộc học lỗi lạc.
Ngày ấy, vua quan Triều thần được tin chúa đạo Đà Giang (thuộc miền Tây Bắc ngày nay) Trịnh Giác Mật tụ họp phe đảng nổi lên nổi lên cự lại triều đình. Tin dữ trong nước đến cùng lúc nhà Nguyên đang sửa soạn đại binh đánh Đại Việt. Cần phải dẹp ngay mối bất hòa trong nước . Người đảm đang trọng trách này không ai hơn Trần Nhật Duật. Thế là vị vương trẻ 27 tuổi dưới cờ hiệu "Trấn thủ Đà Giang" làm lễ ra quân lên đường.
Hay tin, chúa Đà Giang họp đám hầu mục bàn kế cự chiến. Trịnh Giác mật định ám hại viên tướng trẻ triều Trần nên sai người đưa thư dụ Nhật Duật: "Giác Mật không dám trái lệnh triều đình. Nếu ân chủ một mình một ngựa đến, Giác Mật xin ra hàng ngay". Muốn thu phục được Giác Mật, Nhật Duật mặc các tướng can ngăn, một mình một ngựa đến trại Giác Mật, chỉ mang theo mấy tiểu đồng cắp tráp đi hầu. Thản nhiên đi giữa lớp lớp gươm giáo và đám lính sắc phục kỳ dị cố ý phô trương uy hiếp của Giác Mật, Nhật Duật nói với chúa đạo bằng chính ngôn ngữ và theo đúng phong tục của dân tộc Đà Giang:
-Lũ tiểu đồng của ta khi đi đường thì nóng tai trái, vào đây thì nóng tai phải.
Từ Giác Mật đến các đầu mục đều sững sờ kinh ngạc trước sự am hiểu tiếng nói và tục lệ của Nhật Duật. Rồi mâm rượu được bưng lên. Chúa đạo nheo mắt thách thức, đưa tay mời, Chỉ có quả bầu cắt đôi sóng sánh rượu và dĩa thịt nai muối. Nhật Duật không chút ngần ngại cầm thịt ăn rồi vừa nhai vừa ngửa mặt, cầm gáo rượu bầu từ từ dốc vào mũi hết sức thành thạo.
Trịnh Giác Mật kinh ngạc thốt lên: "Chiêu Văn Vương là anh em với ta".
Nhật Duật từ tốn: "chúng ta xưa nay vẫn là anh em". Rồi sau đấy, theo lệnh Nhật Duật, tiểu đồng mở tráp lấy ra những chiếc vòng bạc sáng lóa trao cho từng đầu mục Đà Giang. Những người cầm đầu đạo Đà Giang chỉ còn biết: hoan hỉ đón lấy tặng phẩm kết nghĩa theo đúng tục lệ của họ từ tay viên tướng triều đình mà họ vừa nhận làm anh em. Chúa đạo Đà Giang đã quy thuận. Sức mạnh của dân tộc như được nhân lên.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Quang Khải_đọc truyện sex hay việt
Trần Quang Khải
Tác giả: nhiều tác giả
Thượng Tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải (1241-1294) là con trai vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh).
Dưới triều vua Trần Thánh Tông (Anh ruột Quang Khải), Trần Quang Khải được phong chức tước Chiêu Minh đại vương. Năm Giáp Tuất (1274), ông được giao chức Tướng quốc thái úy. Năm Nhâm Ngọ (1282), dưới triều vua Nhân Tông, Trần Quang Khải được cử làm Thượng tướng thái sư, nắm toàn quyền nội chính. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba, Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ 2, sau Trần Quốc Tuấn và có nhiều công lớn. Chính Trần Quang Khải đã chỉ huy quân Trần đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, những trận then chốt nhằm khôi phục kinh thành vào cuối tháng 5 năm ất Dậu (1285).
Bên cạnh năng lực quân sự, Trần Quang Khải còn là một nhà thơ có vị trí không nhỏ trong văn học sử Việt Nam. Ông là tác giả "Lạc Đạo" đã thất truyền và theo lời bình của Phạm Huy Chú, thơ ông "thanh thoát, nhàn nhã, sâu xa, lý thú". Đọc bản dịch bài thơ "Vườn Phúc Hưng" của Quang Khải, thấy rõ hơn tâm hồn ông:
Phúc Hưng một khoảnh nước bao quanh
Vài mẫu vườn quê đất rộng thênh
Hết tuyết chòm mai hoa trắng xóa
Quang mây đỉnh trúc sắc tươi xanh
Nắng lên mời khách pha trà nhấp
Mưa tạnh sai đồng giở thuốc nhanh
Báo giặc ải Nam không khói lửa
Bên giường một giấc ngủ ngon lành
Trần Quang Khải, một cuộc đời lớn, vừa làm Thủ tướng, vừa làm tướng, vừa đánh giặc vừa làm thơ.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
Thượng Tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải (1241-1294) là con trai vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh).
Dưới triều vua Trần Thánh Tông (Anh ruột Quang Khải), Trần Quang Khải được phong chức tước Chiêu Minh đại vương. Năm Giáp Tuất (1274), ông được giao chức Tướng quốc thái úy. Năm Nhâm Ngọ (1282), dưới triều vua Nhân Tông, Trần Quang Khải được cử làm Thượng tướng thái sư, nắm toàn quyền nội chính. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba, Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ 2, sau Trần Quốc Tuấn và có nhiều công lớn. Chính Trần Quang Khải đã chỉ huy quân Trần đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, những trận then chốt nhằm khôi phục kinh thành vào cuối tháng 5 năm ất Dậu (1285).
Bên cạnh năng lực quân sự, Trần Quang Khải còn là một nhà thơ có vị trí không nhỏ trong văn học sử Việt Nam. Ông là tác giả "Lạc Đạo" đã thất truyền và theo lời bình của Phạm Huy Chú, thơ ông "thanh thoát, nhàn nhã, sâu xa, lý thú". Đọc bản dịch bài thơ "Vườn Phúc Hưng" của Quang Khải, thấy rõ hơn tâm hồn ông:
Phúc Hưng một khoảnh nước bao quanh
Vài mẫu vườn quê đất rộng thênh
Hết tuyết chòm mai hoa trắng xóa
Quang mây đỉnh trúc sắc tươi xanh
Nắng lên mời khách pha trà nhấp
Mưa tạnh sai đồng giở thuốc nhanh
Báo giặc ải Nam không khói lửa
Bên giường một giấc ngủ ngon lành
Trần Quang Khải, một cuộc đời lớn, vừa làm Thủ tướng, vừa làm tướng, vừa đánh giặc vừa làm thơ.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Quốc Tuấn_đọc truyện sex hay việt
Trần Quốc Tuấn
Tác giả: nhiều tác giả
Tiểu sử
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một danh nhân quân sự cổ kim của thế giới.
Ngay từ nhỏ, Trần Liễu đã kén những thầy giỏi dạy cho Quốc Tuấn, ký thác cho con hội đủ tài võ, mong trả mối thù sâu nặng năm nào.
Lớn lên Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh, xuất chúng, đọc rộng các sách cả văn lẫn võ. Trong đời mình Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần nạn nước. Nhưng ông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùnh cứu nước. Ông luôn đặt lợi nước lên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, tạo cho thế nước ở đỉnh cao muôn trượng đủ sức đè bẹp quân thù. Trong lần quân Nguyên sang xâm lược lần thứ ha, thấy rõ ngành trưởng, ngành thứ xung khắc, giữa ông và Trần Quang Khải không chung sức chung lòng thì kẻ thù có lợi chỉ có thể là quân giặc. Bởi vậy, Quốc Tuấn đã chủ động giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hùng mạnh.
Chuyện kể rằng, một lần ở biển Đông, Quốc Tuấn mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện chơi cờ và sai người nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Trần Quang Khải, vĩnh viễn xóa nỗi hiềm khích giữa hai người, đầu mối của hai chi họ Trần (Quốc Tuấn là con Trần Liễu, Quang Khải là con Trần Cảnh). Lần khác, Quốc Tuấn đem việc xích mích dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý kích ông nên cướp ngôi chi thứ. Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. May nhờ các con và những người tâm phúc van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng:
Từ nay cho tới khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thần này nữa.
Trong kháng chiến, ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt. Dư luận xì xào sợ ông giết vua,. Ông liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yên lòng quân dân.
Ba lần chống giặc, các vua Trần đều giao cho ông quyền Tiết chế (Tổng tư lệnh quân đội) vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính, do vậy tướng sĩ hết lòng tin yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đội quân bách chiến bách thắng.
Trần Quốc Tuấn là bậc tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp Tông bí truyền thư dể răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc. Khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng trận, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn trương của một bậc "đại bút".
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức.
Là tướng nhân, ông thương dân thương quân, chỉ cho họ con đường sáng.
Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi.
Là tướng trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn tới đâu.
Là tướng dũng, ông xông pha nơi nguy hiyểm để đánh giặc, tạo những trận như Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời.
Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông thì gặp họa. Cho nên, cả 3 lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọng trách điều bát binh mã và đều lập công lớn.
Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm và hỏi:
Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?
Ông đã trăng trối những lời tâm huyết, sâu sắc, đúng cho mọi thời đại:
- Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.
Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tý (1300), "Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời ông dặn, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rường An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ. Vua gia phong cho ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, phong ấp của ông lúc sinh thời.
Phụ lục
TRẦN QUỐC TUẤN (1232-1300)
Nhà quân sự, chính trị kiệt xuất và nhà văn Việt Nam đời Trần. Tên quen thuộc là Trần Hưng Ðạo hay Hưng Ðạo Vương. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Con An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu vua Trần Thái Tông.
Từ nhỏ đã có khiếu văn chương và võ nghệ. Lớn lên, học vấn uyên bác, cưỡi ngựa bắn cung thành thạo, có tài quân sự. Khi giặc Nguyên sang cướp nước ta, ông được Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ, đánh tan tác trên dưới sáu mươi vạn quân Nguyên Mông, dành thắng lợi lẫy lừng. Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân ta chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng... Công lao to lớn này đưa Trần Quốc Tuấn lên hàng một thiên tài quân sự có tầm chiến lược, và một anh hùng dân tộc công lao bậc nhất của nhà Trần.
Ông mất ngày 03/09/1300. Ðược phong tặng danh hiệu Thái sư thượng phụ thượng quốc công nhân vũ Hưng Ðạo đại vương. Nhân dân đương thời lập đền thờ ông, gọi là đền Kiếp Bạc.
Tác phẩm chính:
"Hịch tướng sĩ"
"Binh thư yếu lược"
"Vạn Kiếp tông bí truyền thư".
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
Tiểu sử
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một danh nhân quân sự cổ kim của thế giới.
Ngay từ nhỏ, Trần Liễu đã kén những thầy giỏi dạy cho Quốc Tuấn, ký thác cho con hội đủ tài võ, mong trả mối thù sâu nặng năm nào.
Lớn lên Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh, xuất chúng, đọc rộng các sách cả văn lẫn võ. Trong đời mình Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần nạn nước. Nhưng ông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùnh cứu nước. Ông luôn đặt lợi nước lên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, tạo cho thế nước ở đỉnh cao muôn trượng đủ sức đè bẹp quân thù. Trong lần quân Nguyên sang xâm lược lần thứ ha, thấy rõ ngành trưởng, ngành thứ xung khắc, giữa ông và Trần Quang Khải không chung sức chung lòng thì kẻ thù có lợi chỉ có thể là quân giặc. Bởi vậy, Quốc Tuấn đã chủ động giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hùng mạnh.
Chuyện kể rằng, một lần ở biển Đông, Quốc Tuấn mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện chơi cờ và sai người nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Trần Quang Khải, vĩnh viễn xóa nỗi hiềm khích giữa hai người, đầu mối của hai chi họ Trần (Quốc Tuấn là con Trần Liễu, Quang Khải là con Trần Cảnh). Lần khác, Quốc Tuấn đem việc xích mích dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý kích ông nên cướp ngôi chi thứ. Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. May nhờ các con và những người tâm phúc van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng:
Từ nay cho tới khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thần này nữa.
Trong kháng chiến, ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt. Dư luận xì xào sợ ông giết vua,. Ông liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yên lòng quân dân.
Ba lần chống giặc, các vua Trần đều giao cho ông quyền Tiết chế (Tổng tư lệnh quân đội) vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính, do vậy tướng sĩ hết lòng tin yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đội quân bách chiến bách thắng.
Trần Quốc Tuấn là bậc tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp Tông bí truyền thư dể răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc. Khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng trận, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn trương của một bậc "đại bút".
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức.
Là tướng nhân, ông thương dân thương quân, chỉ cho họ con đường sáng.
Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi.
Là tướng trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn tới đâu.
Là tướng dũng, ông xông pha nơi nguy hiyểm để đánh giặc, tạo những trận như Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời.
Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông thì gặp họa. Cho nên, cả 3 lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọng trách điều bát binh mã và đều lập công lớn.
Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm và hỏi:
Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?
Ông đã trăng trối những lời tâm huyết, sâu sắc, đúng cho mọi thời đại:
- Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.
Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tý (1300), "Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời ông dặn, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rường An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ. Vua gia phong cho ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, phong ấp của ông lúc sinh thời.
Phụ lục
TRẦN QUỐC TUẤN (1232-1300)
Nhà quân sự, chính trị kiệt xuất và nhà văn Việt Nam đời Trần. Tên quen thuộc là Trần Hưng Ðạo hay Hưng Ðạo Vương. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Con An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu vua Trần Thái Tông.
Từ nhỏ đã có khiếu văn chương và võ nghệ. Lớn lên, học vấn uyên bác, cưỡi ngựa bắn cung thành thạo, có tài quân sự. Khi giặc Nguyên sang cướp nước ta, ông được Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ, đánh tan tác trên dưới sáu mươi vạn quân Nguyên Mông, dành thắng lợi lẫy lừng. Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân ta chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng... Công lao to lớn này đưa Trần Quốc Tuấn lên hàng một thiên tài quân sự có tầm chiến lược, và một anh hùng dân tộc công lao bậc nhất của nhà Trần.
Ông mất ngày 03/09/1300. Ðược phong tặng danh hiệu Thái sư thượng phụ thượng quốc công nhân vũ Hưng Ðạo đại vương. Nhân dân đương thời lập đền thờ ông, gọi là đền Kiếp Bạc.
Tác phẩm chính:
"Hịch tướng sĩ"
"Binh thư yếu lược"
"Vạn Kiếp tông bí truyền thư".
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Trần Thái Tông_đọc truyện sex hay việt
Trần Thái Tông
Tác giả: nhiều tác giả
Tiểu sử
TRẦN THÁI TÔNG (1218-1277)
Hoàng đế khai nghiệp nhà Trần. Tên thật là Trần Cảnh; miếu hiệu Thái Tông (1225 - 1258). Là con của ông Trần Thừa và bà Lê Thị Phong. Sinh ngày 17/07/1218. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Nam Định.
Ông lên ngôi vua từ năm 1225, do vợ là Lý Chiêu Hoàng trao nghiệp nhà Lý cho ông kế thừa dưới sự giúp đỡ, sắp đặt của người chú là Thái sư Trần Thủ Ðộ.
Triều đại ông việc chính trị, văn hóa, tôn giáo đều cực thịnh. Ông là người chuyên tâm nghiên cứu Phật học và sùng mộ đạo Phật, nhưng không hề xem thường cái học của các trường phái khác. Học thuật nước nhà do đó phát triển. Năm 1257, cùng cả nước ông đã đánh thắng quân Nguyên-Mông xâm lược để lại tiếng vang trong lịch sử dân tộc.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Ðất nước hòa bình, nhân dân an cư lạc nghiệp phần nào giúp ông thư thái trong tâm hồn. Ông có đủ thời giờ để lo tu niệm, trước tác nhiều kinh sách về Phật giáo; và là người có ảnh hưởng rõ rệt trong đời sống Phật giáo thời Lý-Trần.
Ông mất ngày 04/05/1277, làm Vua được 33 năm.
Tác phẩm chính:
"Khóa hư lục"
"Thiền Tông chỉ nam tự"
"Lục thì sám hối khoa nghi"...
Quốc gia xã tắc
Nhờ Trần Thủ Độ thu xếp, Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho Trần Cảnh tức là vua Trần Thái Tông. Chiêu Thánh Hoàng hậu lấy Trần Thái Tông được 12 năm, tức là 19 tuổi mà chưa có con, trong khi triều Trần cần kíp phải có hoàng tử. Bởi vậy, Trần Thủ Độ bắt vua Thái Tông bỏ Chiêu Thánh, giáng xuống làm công chúa rồi đem người chị của Chiêu Thánh, vợ của Trần Liễu , đang có thai vào làm Hoàng hậu. Trần Liễu tức giận đem quân làm loạn. Vua Thái Tông cũng đang đêm bỏ trốn lên chùa Phù Vân, núi Yên Tử (Quảng Ninh) tỏ ý phản đối. Trần Thủ Độ đem quần thần tới đón về. Thái Tông từ chối, nói rằng:
- Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc.
Nói mãi không chuyển, Thủ Độ ngoảnh lại nói với các quan:
- Hoàng thượng ở đâu là triều đình ở đấy.
Nói đoạn truyền lệnh xây cung điện điện ở chùa Phù Vân. Vị quốc sư ở chùa vào van lạy Thái Tông về triều. Thái Tông bất đắc dĩ theo xa giá về kinh.
Được ít lâu Trần Liễu biết không địch nổi, đang đêm làm người đánh cá lên thuyền ngự xin hàng. Hai anh em ôm nhau mà khóc. Thủ Độ hay tin, tuốt gươm xông đến toan giết Trần Liễu. Thái Tông lấy thân che cho anh, xin Thủ Độ tha cho Trần Liễu. Trần Thủ Dộ quẳng gươm xuống, nói:
- Ta là con chó săn thôi. Chưa biết anh em bay ai thuận ai nghịch.
Vua Thái Tông tha cho Trần Liễu, cắt cho đất An Sinh làm thái ấp và phong cho làm An Sinh vương.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất năm Đinh Tý (1-1258), Thái Tông biết dựa vào Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn (tức Trần Hưng Đạo, con của Trần Liễu) để lãnh đạo nhân dân Đại Việt quyết chống giặc. Bản thân Thái Tông cũng tự làm tướng đi đốc chiến, xông pha tên đạn.
Tháng 12 năm Đinh Tý (21-1-1258), vua Thái Tông cùng Thái tử Hoảng đã chỉ huy quân Trần phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ đầu, giải phóng Thăng Long.
Trần Thái Tông đã trở thành ông vua anh hùng cứu nước. Nhưng Thái Tông còn được sử sách lưu truyền còn bởi ông là một nhà Thiền học, một triết gia có tư tưởng sâu sắc, một cốt cách độc đáo, là tác giả Khóa hư lục, một cuốn sách xưa nhất hiện còn giữ được trong kho thư tịch cổ nước ta.
Trong một văn bản Khóa hư lục có bài "Tự Thiền tông chỉ nam" của Trần Thái Tông viết. Ông kể lại sự việc năm 1236 đang đêm bỏ cung điện vào núi và lý do trở về. Ấy là khi Thái sư Trần Thủ Độ thống thiết nói:
"Bệ hạ ở tu cho riêng mình thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Vì để lời nói suông mà báo đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Do đấy, trẫm cùng các vị quốc lão về kinh, gắng lại lên ngôi".
Có lẽ ít thấy trong lịch sử Phật giáo nước nào lại nêu vấn đề "quốc gia xã tắc" lên trên hết, trước hết là như thế. Thái độ đối với quốc gia xã tắc là thước đo giá trị mỗi người, bất kể họ ở cương vị nào. Nghe theo quốc gia xã tắc, Trần Thái Tông đã trở về triều để 22 năm sau đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt phá tan quân Nguyên. Trần Thái Tông quả là người có tính cách đặc biệt. Lúc làm vua thì thân làm tướng đi đánh giặc "xông vào mũi tên hòn đạn", làm vua nhưng xem thường vinh hoa phú quý, có thể từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc. Ông là gương mặt văn hóa đẹp và lạ đến khác thường trong lịch sử Việt Nam.
Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258), Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, một cách tập sự cho Thái tử quen việc trị nước. Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng hoàng để cùng coi việc nuớc.
Thái Tông trị vì được 33 năm, làm Thái Thượng hoàng 19 năm thì mất, thọ 60 tuổi.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tác giả: nhiều tác giả
Tiểu sử
TRẦN THÁI TÔNG (1218-1277)
Hoàng đế khai nghiệp nhà Trần. Tên thật là Trần Cảnh; miếu hiệu Thái Tông (1225 - 1258). Là con của ông Trần Thừa và bà Lê Thị Phong. Sinh ngày 17/07/1218. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Nam Định.
Ông lên ngôi vua từ năm 1225, do vợ là Lý Chiêu Hoàng trao nghiệp nhà Lý cho ông kế thừa dưới sự giúp đỡ, sắp đặt của người chú là Thái sư Trần Thủ Ðộ.
Triều đại ông việc chính trị, văn hóa, tôn giáo đều cực thịnh. Ông là người chuyên tâm nghiên cứu Phật học và sùng mộ đạo Phật, nhưng không hề xem thường cái học của các trường phái khác. Học thuật nước nhà do đó phát triển. Năm 1257, cùng cả nước ông đã đánh thắng quân Nguyên-Mông xâm lược để lại tiếng vang trong lịch sử dân tộc.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Ðất nước hòa bình, nhân dân an cư lạc nghiệp phần nào giúp ông thư thái trong tâm hồn. Ông có đủ thời giờ để lo tu niệm, trước tác nhiều kinh sách về Phật giáo; và là người có ảnh hưởng rõ rệt trong đời sống Phật giáo thời Lý-Trần.
Ông mất ngày 04/05/1277, làm Vua được 33 năm.
Tác phẩm chính:
"Khóa hư lục"
"Thiền Tông chỉ nam tự"
"Lục thì sám hối khoa nghi"...
Quốc gia xã tắc
Nhờ Trần Thủ Độ thu xếp, Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho Trần Cảnh tức là vua Trần Thái Tông. Chiêu Thánh Hoàng hậu lấy Trần Thái Tông được 12 năm, tức là 19 tuổi mà chưa có con, trong khi triều Trần cần kíp phải có hoàng tử. Bởi vậy, Trần Thủ Độ bắt vua Thái Tông bỏ Chiêu Thánh, giáng xuống làm công chúa rồi đem người chị của Chiêu Thánh, vợ của Trần Liễu , đang có thai vào làm Hoàng hậu. Trần Liễu tức giận đem quân làm loạn. Vua Thái Tông cũng đang đêm bỏ trốn lên chùa Phù Vân, núi Yên Tử (Quảng Ninh) tỏ ý phản đối. Trần Thủ Độ đem quần thần tới đón về. Thái Tông từ chối, nói rằng:
- Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc.
Nói mãi không chuyển, Thủ Độ ngoảnh lại nói với các quan:
- Hoàng thượng ở đâu là triều đình ở đấy.
Nói đoạn truyền lệnh xây cung điện điện ở chùa Phù Vân. Vị quốc sư ở chùa vào van lạy Thái Tông về triều. Thái Tông bất đắc dĩ theo xa giá về kinh.
Được ít lâu Trần Liễu biết không địch nổi, đang đêm làm người đánh cá lên thuyền ngự xin hàng. Hai anh em ôm nhau mà khóc. Thủ Độ hay tin, tuốt gươm xông đến toan giết Trần Liễu. Thái Tông lấy thân che cho anh, xin Thủ Độ tha cho Trần Liễu. Trần Thủ Dộ quẳng gươm xuống, nói:
- Ta là con chó săn thôi. Chưa biết anh em bay ai thuận ai nghịch.
Vua Thái Tông tha cho Trần Liễu, cắt cho đất An Sinh làm thái ấp và phong cho làm An Sinh vương.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất năm Đinh Tý (1-1258), Thái Tông biết dựa vào Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn (tức Trần Hưng Đạo, con của Trần Liễu) để lãnh đạo nhân dân Đại Việt quyết chống giặc. Bản thân Thái Tông cũng tự làm tướng đi đốc chiến, xông pha tên đạn.
Tháng 12 năm Đinh Tý (21-1-1258), vua Thái Tông cùng Thái tử Hoảng đã chỉ huy quân Trần phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ đầu, giải phóng Thăng Long.
Trần Thái Tông đã trở thành ông vua anh hùng cứu nước. Nhưng Thái Tông còn được sử sách lưu truyền còn bởi ông là một nhà Thiền học, một triết gia có tư tưởng sâu sắc, một cốt cách độc đáo, là tác giả Khóa hư lục, một cuốn sách xưa nhất hiện còn giữ được trong kho thư tịch cổ nước ta.
Trong một văn bản Khóa hư lục có bài "Tự Thiền tông chỉ nam" của Trần Thái Tông viết. Ông kể lại sự việc năm 1236 đang đêm bỏ cung điện vào núi và lý do trở về. Ấy là khi Thái sư Trần Thủ Độ thống thiết nói:
"Bệ hạ ở tu cho riêng mình thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Vì để lời nói suông mà báo đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Do đấy, trẫm cùng các vị quốc lão về kinh, gắng lại lên ngôi".
Có lẽ ít thấy trong lịch sử Phật giáo nước nào lại nêu vấn đề "quốc gia xã tắc" lên trên hết, trước hết là như thế. Thái độ đối với quốc gia xã tắc là thước đo giá trị mỗi người, bất kể họ ở cương vị nào. Nghe theo quốc gia xã tắc, Trần Thái Tông đã trở về triều để 22 năm sau đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt phá tan quân Nguyên. Trần Thái Tông quả là người có tính cách đặc biệt. Lúc làm vua thì thân làm tướng đi đánh giặc "xông vào mũi tên hòn đạn", làm vua nhưng xem thường vinh hoa phú quý, có thể từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc. Ông là gương mặt văn hóa đẹp và lạ đến khác thường trong lịch sử Việt Nam.
Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258), Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, một cách tập sự cho Thái tử quen việc trị nước. Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng hoàng để cùng coi việc nuớc.
Thái Tông trị vì được 33 năm, làm Thái Thượng hoàng 19 năm thì mất, thọ 60 tuổi.
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012
Đồi Thỏ - Chương 26-50-13_đọc truyện sex hay việt
Trang 13 trong tổng số 13
Chương 50
Và Cuối Cùng
Vả lại, khi tuyên bố rằng tôi tin chắc sự can thiệp bất công của Trưởng tu viện hầu như không thực sự ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ mà có khi lại còn có lợi bởi vì nó giúp họ hiểu nhau hơn và càng gắn bó với nhau mạnh mẽ hơn, tôi để điều này cho những ai có lòng quan tâm giải quyết...
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tu viện Northanger của Jane Austen
Đó là một buổi tối đẹp trời, trong sáng vào giữa tháng Mười, sau đó khoảng sáu tuần. Mặc dầu lá vẫn chưa rụng và ánh mặt trời vẫn ấm áp, vẫn có cảm giác về sự trống trải đang lớn dần lên trong khoảng không rộng lớn của núi rừng. Hoa cỏ thưa thớt dần. Đó đây thấp thoáng những bông hoa dại vàng rộm trên thảm cỏ, một cây hoa chuông lá tròn nở muộn và đâu đó vẫn còn chút sắc hoa tím trên những cành nâu khô giòn của cây bách bệnh. Nhưng hầu hết cây cối vẫn đang ra hạt. Dọc theo bìa rừng, một vài cây ông lão dại phô ra như một vạt khói, mùi hương ngòn ngọt của nó hóa thành bộ râu của một ông già. Khúc hát rỉ rả của lũ côn trùng trở nên thưa thớt và ngắt quãng hơn. Những luống cỏ dài, từng tươi tốt như rừng vào mùa hè giờ gần như tàn lụi hết, chỉ còn những con ong hối hả hoặc con nhện uể oải là còn ở lại trong số vạn vật của tháng Tám. Lũ muỗi mắt vẫn bay lượn trong bầu không gian tươi sáng, nhưng bị lũ chim én lao xuống đớp gọn rồi bay đi; và thay cho tiếng kêu khiếp hãi của chúng trên bầu trời là tiếng ríu rít của một con chim cổ đỏ đậu trên ngọn cây suốt. Những cánh đồng dưới chân núi đều đã gặt hết. Một trong số đó vừa được cày và những đường cày thẳng tắp, sắc cạnh đón nhận làn ánh sáng mờ rnờ dễ nhận thấy từ dốc núi bên trên hắt xuống. Bầu trời gần như trống rỗng và trong vắt như nước. Vào tháng Bảy da trời vẫn xanh thắm, đặc như kem và dường như sà thấp ngay bên trên những ngọn cây xanh, những giờ đây cái màu xanh ấy nằm tít trên cao và ngày một hiếm hoi hơn, mặt trời trượt nhanh hơn về phía Tây và một khi đã ở đó, nó chìm xuống chậm chạp, to lớn, ngái ngủ, đỏ tía như quả tầm xuân trong bụi thạch nam, báo hiệu trước sẽ có sương giá. Khi ngọn gió tươi mát thổi đến từ hướng Nam, những chiếc lá sồi vàng rộm, đỏ tía cọ vào nhau làm vang lên những âm thanh giòn giã, dễ nhận ra hơn cả tiếng nước chảy những ngày trước đó. Đó là thời điểm của những chuyến khởi hành lặng lẽ, của sự sàng lọc ra những kẻ không đủ sức chống chọi lại mùa đông giá lạnh.
Nhiều người nói rằng họ thích mùa đông, nhưng thực ra cái mà họ thích là cảm giác mình có thể chống lại mùa đông lạnh giá ấy. Với họ, thức ăn trong mùa đông không thành vấn đề. Họ có bếp lửa và quần áo ấm. Mùa đông không thể làm hại họ và vì thế chỉ làm tăng thêm cảm nhận của họ về sự khôn ngoan và an toàn. Với chim chóc, muông thú và cả những người nghèo nữa, mùa đông là cả một vấn đề. Loài thỏ, giống như đa số các loài thú hoang khác, phải chịu đựng sự khắc nghiệt của mùa đông. Tất nhiên là chúng còn may mắn hơn một số loài, bởi vì thức ăn của chúng gần như bao giờ cũng có. Nhưng khi tuyết phủ trên mặt đất, chúng phải nằm lì dưới hang suốt hàng ngày trời nối tiếp nhau, chỉ ăn bằng cách nhai lại. Chúng lại còn phải đối mặt với bệnh tật nhiều hơn trong mùa đông và cái lạnh làm giảm bớt sức sống của chúng. Tuy nhiên, những cái hang thỏ có thể khá tiện lợi và ấm cúng, đặc biệt là khi đông đúc. Mùa đông là mùa kết đôi sôi nổi hơn so với cuối hè và mùa thu; thời gian sinh sản tuyệt vời nhất cho thỏ cái bắt đầu từ tháng Hai. Đó là những ngày tươi đẹp khi việc đi kiếm ăn trên mặt đất vẫn đầy thú vị. Với những kẻ thích phiêu lưu, những cuộc chinh phạt vườn rau vẫn có sức mê hoặc kỳ lạ. Và dưới lòng đất, những câu chuyện vẫn tiếp tục được ôn lại, những trò chơi vẫn diễn ra: trò đá bốp và những trò chơi khác. Với bọn thỏ, mùa đông vẫn chẳng khác gì như với những người trong độ tuổi trung niên - khó nhọc đấy nhưng có thể chịu được nếu biết cùng nhau xoay xở và không phải lúc nào cũng không có sự đền bù.
Ở mặt phía Tây cánh rừng sồi, trong ánh nắng buổi chiều tà, Cây Phỉ và Thứ Năm đang ngồi với Nhựa Ruồi, Xám Bạc và Cúc Bạc. Đám tàn quân Efrafa được phép gia nhập cánh đồng thỏ và sau những ngày đầu dao động, khi chúng bị soi xét dưới những cái nhìn không thiện cảm và đầy nghi hoặc, thì nay tất cả đã hòa nhập rất tốt, phần lớn là nhờ Cây Phỉ đã nhất quyết rằng chúng nên như thế.
Kể từ sau cái đêm bị vây hãm trong hang, Thứ Năm thường dành nhiều thời gian ở một mình, thậm chí cả khi ở trong Tổ Ong hoặc vào bữa sáng và bữa tối, chú ta vẫn thường im lặng, bận tâm vào một điều gì đó. Không ai cảm thấy khó chịu về điều này. "Cậu ấy nhìn bạn một cách thân thiện, dễ thương," nói theo lời Hoa Chuông - vì mỗi người, theo cách riêng của mình, đều nhận ra rằng Thứ Năm giờ đây đang bị chi phối hơn bao giờ hết, dù chú ta có thực sự như vậy không, bởi sự rung động của cái thế giới đầy bí ẩn mà chú từng có lần thổ lộ với Cây Phỉ vào những ngày cuối tháng sáu khi họ ở cùng nhau dưới chân núi. Chính Tóc Giả đã nói - một buổi tối khi Thứ Năm không có mặt trong Tổ Ong vào giờ kể chuyện - rằng Thứ Năm là người có công hơn chú trong cái đêm chiến thắng bọn Efrafa. Nhưng với cô thỏ của mình - Vilthuril - Thứ Năm thì hết lòng hết dạ, trong khi đó cô nàng đã dần dần hiểu chú sâu sắc không kém gì Cây Phỉ.
Ngay phía ngoài vạt rừng sồi, đàn con của Sương Mai gồm bốn thỏ con đang nô đùa trên bãi cỏ. Chúng mới được mang lên mặt đất khoảng một tuần trước. Nếu Sương Mai đẻ lứa thứ hai vào thời gian này thì cô thỏ sẽ để cho lứa đầu tự chăm sóc. Tuy vậy, cô vẫn lảng vảng quanh đàn con, quan sát chúng chơi đùa và thỉnh thoảng lại cho con khỏe nhất một cái bạt tai, cảnh cáo nó không được bắt nạt những con khác.
"Đàn thỏ này thật khỏe mạnh, anh thấy không." Nhựa Ruồi nói "Tôi hy vọng chúng ta sẽ có thêm nhiều lứa như thế nữa."
"Chúng ta chẳng thể hy vọng có thêm nhiều lứa nữa cho đến cuối mùa đông," Cây Phỉ nói "mặc dầu tôi dám nói là sẽ có thêm một vài lứa nữa."
"Với tôi, dường như chúng ta có thể chờ đợi bất cứ điều gì." Nhựa Ruồi nói "Ba lứa đẻ trong mùa thu - anh đã nghe thấy điều gì như thế bao giờ chưa? Thần Mặt trời đâu có muốn lũ thỏ nhân giống vào giữa mùa hè."
"Tôi không biết với Thanh Nhàn thì thế nào." Cây Phỉ nói tiếp "Cô ấy là thỏ nuôi trong chuồng, theo lẽ tự nhiên thì cô ấy có thể đẻ bất cứ lúc nào; tôi chỉ biết thế thôi. Nhưng tôi dám chắc là Sương Mai và Vilthuril bắt đầu mang thai vào giữa mùa hè bởi vì họ không có cuộc sống tự nhiên ở Efrafa. Vì thế họ mới là hai người duy nhất đã có con cho đến nay."
"Thần Mặt trời không bao giờ muốn chúng ta đánh nhau vào giữa mùa hè, nếu chuyện có đến nước ấy." Xám Bạc nói "Tất cả mọi thứ đã diễn ra đều phi tự nhiên - đánh nhau, đẻ con - và tất cả đều vì Hoắc Hương. Nếu hắn không phải là kẻ bất bình thường thì còn ai vào đây nữa?"
"Tóc Giả đã đúng khi anh ấy nói rằng hắn không giống một con thỏ chút nào." Nhựa Ruồi nói "Hắn là con vật hiếu chiến - dữ dội như một con chuột hay con chó. Hắn đánh nhau bởi vì hắn cảm thấy an toàn trong khi đánh nhau hơn là khi bỏ chạy. Hắn can đảm cùng mình đấy. Nhưng điều này thì không bất thường đâu và đó là lý do tại sao hắn có cái kết cục ấy. Hắn đã cố gắng làm một điều mà Thần Mặt trời không muốn bọn thỏ chúng ta làm. Tôi tin rằng hắn sẽ săn mồi chả khác gì kẻ thù nếu có thể."
"Các anh biết đấy, Hoắc Hương chưa chết." Cúc Bạc xen vào.
Những chú khác im lặng.
"Hắn chưa ngừng chạy." Cúc Bạc nói giọng tha thiết "Các anh có nhìn thấy xác hắn không? Không. Có bất cứ ai nhìn thấy không? Không. Chẳng gì có thể giết được hắn. Hắn làm cho bọn thỏ lớn hơn trước đó - dũng cảm hơn, khôn ngoan hơn, thiện chiến hơn. Tôi biết chúng tôi đã phải trả giá cho điều đó. Một số người mất mạng. Nhưng cũng xứng đáng thôi, để cảm thấy mình là người của Efrafa. Lần đầu tiên trong đời, bọn thỏ không còn là một bầy nhốn nháo, lang thang không nơi ở cố định. Kẻ thù sợ chúng tôi. Và tất cả là nhờ Hoắc Hương - chính hắn chứ không phải ai khác. Chúng tôi không đủ giỏi giang đối với Thống soái. Do vậy, Hoắc Hương sẽ bắt đầu một cánh đồng thỏ ở nơi khác. Nhưng không một sĩ quan nào ở Efrafa có thể quên được hắn."
"Được, bây giờ tôi sẽ kể cho anh biết một điều khác." Xám Bạc bắt đầu. Nhưng Cây Phỉ đã cắt ngang.
"Đừng bao giờ nói là mình không đủ giỏi giang." chú nói "Anh đã làm cho hắn tất cả mọi việc mà một thỏ có thể làm và còn nhiều hơn thế nữa. Có nhiều cái mà chúng tôi học hỏi được từ anh đấy! Còn về Efrafa, tôi nghe nói mọi chuyện đều tốt dưới sự chỉ huy của Thạch Trúc, mặc dầu có một số việc không giống như trước đây mọi người đã quen. Và nghe đây, vào mùa xuân tới, nếu tôi không nhầm, chúng ta sẽ có thêm nhiều thỏ ở đây nên cánh đồng này sẽ trở nên chật hẹp. Tôi sẽ khuyến khích lớp trẻ dựng lên một cánh đồng thỏ mới ở giữa đây và Efrafa, và tôi cho rằng anh sẽ là người tìm đến Thạch Trúc hỏi xem anh ta có sẵn lòng gửi một số thành viên đến chỗ ở mới không. Anh sẽ là người thích hợp để bắt đầu cái kế hoạch ấy."
"Không quá khó sắp xếp chứ?" Nhựa Ruổi hỏi.
"Không khó khi Kehaar đến." Cây Phỉ nói khi cả bọn bắt đầu nhẹ nhàng nhảy lại chỗ những cái hang ở góc Đông Bắc của rừng sồi. "Anh ấy sẽ trở lại một ngày nào đó khi những cơn bão bắt đầu ở vùng Nước Lớn xa xôi của anh ấy. Kehaar có thể mang thông điệp đến cho Thạch Trúc cũng dễ dàng như anh chạy đến chỗ cái cây sắt và quay lại vậy."
"Thề có Thần Mặt trời trên đám cây rừng. tôi biết ai là người sung sướng khi gặp lại anh ấy!" Xám Bạc nói "Một người không ở quá xa đây."
Họ đã đến đầu Đông khu rừng và ở đây, trên một bãi đất rộng vẫn còn vương nắng chiều, một nhóm những chàng thở - lớn hơn đàn con của Sương Mai một chút - đang ngồi trong những búi cỏ dài lắng nghe một chú thỏ kỳ cựu, to lớn, tai thõng, có một vết sẹo dài từ mũi đến hông - thì còn ai vào đây nữa ngoài Tóc Giả, Đội trưởng Cốt Cán tính tình dễ chịu bậc nhất. Đó là lũ con của Thanh Nhàn và trông chúng rất đáng yêu.
"Ồ không, không, không, không." Tóc Giả đang nói "Ồ, cánh của ta, mỏ của ta, không làm được! Cậu - tên cậu là gì, Cỏ Lưỡi Mèo à, nhìn đây ta là con mèo và ta nhìn thấy cậu ở cuối khu vườn của ta, đang nhá rau diếp. Thế ta sẽ làm gì nào? Ta sẽ đi đến giữa lối đi mà vẫy đuôi ư? Có phải ta làm thế này không?"
"Ngài làm ơn đi mà, cháu còn chưa bao giờ thấy con mèo mà." chú thỏ con nói.
"À, ra là cậu chưa thấy." viên Đội trưởng hào hiệp thừa nhận "Phải, mèo là giống vật kinh khủng với cái đuôi dài. Trên mình có phủ lông và nó có hàng ria mép dựng đứng, khi đánh nhau nó phát ra những tiếng gừ gừ dữ dội và khủng khiếp lắm đấy. Nó khôn ngoan phải biết, đã rõ chưa?"
"Vâng thưa ngài," chú thỏ con trả lời. Một lúc sau chú lễ phép hỏi, "Thế... có phải ngài mất cái đuôi không ạ?"
"Ngài sẽ kể cho chúng cháu nghe cuộc chiến trong cơn bão chứ ạ?" Một chú thỏ khác hỏi "Và cái cống nước nữa?"
"Được nhưng để sau đã," người huấn luyện trả lời, giọng làm ra vẻ nghiêm khắc. "Bây giờ thì nhìn đây, ta sẽ là một con mèo, được chứ? Ta ngủ trong ánh nắng, được chứ? Và các cậu đi ngang qua ta, được chư? Bây giờ thì…"
"Các anh thấy đấy, bọn trẻ trêu ghẹo anh ấy," Xám Bạc nói "nhưng chúng sẽ làm tất cả vì anh ấy."
Nhựa Ruồi và Cỏ Bạc đi xuống hang, chỉ còn Xám Bạc và Cây Phỉ vẫn đi trên mặt đất, một lần nữa, dưới ánh mặt trời chiều đông.
"Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều thế," Cây Phỉ đáp "nếu không có Tóc Giả thì hôm ấy con chó sẽ đến quá trễ. Hoắc Hương và người của hắn sẽ không còn ở trên mặt đất nữa. Tất cả bọn chúng khi đó hẳn đã chui xuống đất, kết thúc cái mà chúng đến để làm."
"Anh ấy đánh Hoắc Hương, anh biết không." Xám Bạc kể "Anh ấy đánh hắn trước khi con chó chạy đến. Đó là điều tôi định nói vào lúc này, nhưng đó cũng là một việc mà tôi không làm nổi, tôi cho là thế."
"Tôi tự hỏi mọi người đang làm gì với cái hang trú đông ở dưới chân đồi." Cây Phỉ tiếp tục "Chúng ta sẽ cần nó khi thời tiết khắc nghiệt hơn. Cái lỗ trên trần ở Tổ Ong không giúp được gì cả. Nó sẽ đóng lại tự nhiên vào một ngày nào đó, tôi nghĩ thế, trong khi ấy thì nó là một mối phiền phức lớn!"
"Dù sao thì những tay đào hang cũng đã tới." Xám Bạc nói.
Nồi Đất và Hoa Chuông đi đến bìa rừng cùng vời ba, bốn cô thỏ.
"A ha ha, Thủ lĩnh Cây Phỉ." Hoa Chuông kêu lên như hát "Cái hang ấm cúng nhất, thành quả việc đào đất, giết khối tên giun đất. Và khi tuyết rơi, chúng ta sẽ chui xuống..."
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
"Vậy là chúng tôi sẽ nợ các anh rất nhiều." Cây Phỉ nói "Tôi muốn nói thế đấy. Những cái lỗ được ngụy trang kỹ chứ?"
"Giống hệt như ở Efrafa, tôi nghĩ vậy." Hoa Chuông nói "Lẽ ra tôi nên mang một cái theo để cho anh thấy. Anh không nhìn thấy gì, phải không nào? Ồ, không các anh đây rồi. Tôi nói là hãy nhìn anh bạn già Tóc Giả với lũ trẻ đằng kia kìa. Các anh biết không, nếu bây giờ anh ấy quay về Efrafa thì chúng sẽ không biết đóng dấu cho anh ấy vào chỗ nào đâu, phải không? Anh ấy có dấu ở tất cả mọi chỗ rồi còn gì."
"Thủ lĩnh Cây Phỉ, anh có đến mạn phía Tây cánh rừng với chúng tôi không?" Nồi Đất hỏi "Chúng ta đến sớm để tận hưởng một chút ánh sáng trước khi trời tối hẳn."
"Được thôi." Cây Phỉ trả lời vẻ đôn hậu "Chúng tôi vừa đi khỏi đấy, tôi và Xám Bạc, nhưng tôi không ngại quay lại đấy lần nữa."
"Hãy đi đến cái hố nhỏ mà chúng ta đã tìm thấy Kehaar vào buổi sáng hôm ấy." Xám Bạc nói "Nó nằm ngoài luồng gió. Anh có nhớ là Kehaar đã nguyền rủa chúng ta và cố mổ vào người chúng ta không?"
"Và những con giun mà ta đã mang đến cho anh ấy nữa chứ?" Hoa Chuông nói tiếp. "Đừng bao giờ quên."
Khi cả bọn đến gần cái hố, họ có thể nghe mà biết rằng cái hố không bỏ không. Rõ ràng có một vài thỏ khác có cùng một ý nghĩ với họ.
"Để coi chúng ta có thể đến gần được thế nào trước khi bị họ phát hiện ra nhé." Xám Bạc nói "Đúng kiểu của Thạch Trúc - đi nào."
Họ lặng lẽ đi đến gần, theo chiều gió từ hướng Bắc thổi tới. Ghé mắt nhìn qua miệng hố họ thấy Vilthuril và bốn đứa con của cô đang nằm sưởi nắng. Mẹ chúng đang kể cho bầy con nghe một câu chuyện.
"Thế là sau khi họ bơi qua sông," giọng Vilthuril vang lên, El-ahrairah dẫn người của mình đi trong đêm tối đến một vùng đất hiu quạnh hoang vu. Một số người đâm sợ, nhưng ông biết rõ đường đi nước bước và sáng sớm hôm sau đã dẫn họ an toàn đến những cánh đồng xanh tươi, tuyệt đẹp mọc lên loại cỏ mềm và ngọt. Ở đây, họ tìm thấy một cánh đồng thỏ, một cánh đồng thỏ bị phù phép. Tất cả thỏ ở đây đều chịu một lời nguyền độc ác. Họ quấn những cái vòng sáng loáng quanh cổ, hát như chim và một số có thể bay được. Nhưng dù trông họ có đẹp đẽ đến mấy, trái tim họ cũng đen tối và hóa tharn, Trong khi ấy, người của El-ahrairah trầm trồ reo lên, "Ôi coi kìa, đây là những thỏ tuyệt vời của Hoàng tử Cầu Vồng. Trông họ chẳng khác gì những ông hoàng. Chúng ta sẽ sống với họ và cũng trở thành những ông hoàng không kém cạnh gì."
Vilthuril ngẩng lên thấy những người mới đến. Cô nàng dừng lại một chút rồi tiếp tục.
"Nhưng Thần Mặt trời đã hiện lên báo mộng cho Giỏ Cua trong một giấc mơ, nói cho ông này biết rằng cánh đồng thỏ đã bị phù phép. Thế là ông bèn đào một đường đi trong lòng đất tìm xem pháp thuật được cất giấu ở đâu. Ông đào rất sâu, cuộc tìm kiếm hết sức khó khăn, nhưng cuối cùng cũng tìm thấy pháp thuật đen tối và lôi nó ra. Thế là tất cả chạy trốn khỏi lời nguyền, nhưng nó lại hóa thành một con chuột cực lớn và bay vào người El-ahrairah. Thế rồi, El-ahrairah đánh nhau với con chuột, phóng lên lao xuống rất ngoạn mục và cuối cùng, ông túm được nó, gí nó bẹp rúm dưới chân mình, rồi nó biến thành một con chim trắng rất lớn, nói chuyện với ông và cầu phúc cho ông."
"Hình như tôi biết câu chuyện này," Cây Phỉ nói "nhưng lại không nhớ đã nghe được ở đâu."
Hoa Chuông ngồi thẳng dậy, gãi gãi cổ bằng cái chân sau. Đám thỏ con quay lại khi thấy bị quấy rầy và trong giây lát chúng nhảy cả lên khỏi cái hổ từ tứ phía, miệng kêu ré lên, "Thủ lĩnh Cây Phỉ! Thủ lĩnh Cây Phỉ!" và tới tấp nhảy đến chỗ Cây Phỉ.
"Này, chờ chút." Cây Phỉ lấy chân trước quạt yêu mấy cái. "Ta không đến đây để tham gia đánh nhau với sắp nhỏ hỗn láo tụi bây đâu. Nghe hết câu chuyện đã nào."
"Nhưng đằng kia có một người đàn ông cưỡi ngựa đi tới, thưa Thủ lĩnh Cây Phỉ." một cậu thỏ con nói "Chúng ta có nên chạy trốn vào trong rừng không?"
"Sao cháu lại nói thế?" Cây Phỉ hỏi "Sao ta chẳng nghe thấy gì hết?"
"Cả tôi cũng không. Xám Bạc nói sau khi dỏng cả hai tai lên nghe.
Cậu thỏ con tỏ vẻ bối rối. "Cháu cũng không biết nữa, Thủ lĩnh Cây Phỉ," cậu nói "nhưng cháu chắc là mình không nhầm đâu."
Cả bọn chờ một lúc, trong khi vầng dương màu đỏ đang từ từ chìm xuống. Cuối cùng, khi Vilthuril toan kể tiếp câu chuyện thì họ nghe thấy tiếng vó ngựa nện ầm ầm trên mặt đất và một người cưỡi ngựa hiện ra ở phía Tây cho ngựa chạy nước kiệu nhỏ nhàn tản theo con đường hướng về phía vùng núi Cannon Heath.
"Ông ta không quấy rầy chúng ta đâu." Xám Bạc nói "Không cần phải bỏ chạy, ông ta chỉ đi qua thôi. Dù vậy, cháu là một chú thỏ ngộ thật đấy anh bạn trẻ Threar ạ, cháu có thể nghe thấy tiếng ông ta từ khoảng cách xa như vậy."
"Nó bao giờ cũng thế. Vilthuril nói "Một hôm nó bảo tôi con sông trông như thế nào và còn nói nó nhìn thấy trong một giấc mơ. Các anh biết đấy, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Một điều chỉ có thể trông đợi từ dòng máu của Thứ Năm."
"Dòng máu của Thứ Năm?" Cây Phỉ kêu lên "Được rồi, chừng nào chúng ta còn có dòng máu đó thì tôi dám nói là tất cả chúng ta rồi sẽ ổn thỏa. Nhưng mọi người thấy không, trời nghe như se lạnh thì phải? Nào hãy đi xuống mà nghe nốt câu chuyện trong một cái hang thoải mái, ấm cúng. Coi kìa, Thứ Năm đang đi tới trên bờ cỏ. Ai sẽ đến gặp cậu ấy trước nào?"
Vài phút sau đã không nhìn thấy chú thỏ nào trên mặt đất nữa. Mặt trời đã chìm xuống dưới đồi Ladle và những vì sao mùa thu bắt đầu tỏa sáng nhấp nháy ở chân trời phía Đông đã đen sẫm lại - chòm sao Thất Tinh, Thiên Hậu và Song Ngư phát ra những tia sáng mờ nhạt còn chòm sao Thiên Mã thì sáng rực. Một ngọn gió nổi lên, chẳng bao lâu sau vô vàn chiếc lá sồi nhuốm vàng thi nhau rụng xuống những cái rãnh, cái hố hoặc bị cuốn theo cơn gió đi xa hàng dặm trên cánh đồng cỏ trống trải mênh mông. Dưới đất, câu chuyện lại được tiếp tục.
PHẦN KẾT
Chàng nhìn ra xa
Vào trong cỗ máy thời gian và
Được rèn luyện bới người dũng cảm nhất: chàng kéo dài lâu;
Nhưng tuổi già xấu như phù thủy đã đánh cắp của chúng tôi,
Và khiến chúng tôi hao mòn hành động...
Mọi điều tốt đẹp đều kết thúc tốt đẹp của Shakespeare
Anh ấy là một phần giấc mơ của tôi nhưng mà tôi cũng là một phần giấc mơ của anh ấy.
Qua chiếc gương soi của Lewis Carroll
"Cuối cùng chuyện gì đã xảy ra?" độc giả đặt câu hỏi, họ là những người đã theo dõi Cây Phỉ và các đồng đội của chú trong tất cả những cuộc phiêu lưu lớn nhỏ và cuối cùng lại trở về cánh đồng thỏ nơi Thứ Năm đã mang họ đến từ những cánh đồng ở Sandleford. ông Lockley khôn ngoan kể cho chúng ta rằng loài thỏ hoang sống trong khoảng hai, ba năm. Ông biết mọi chuyện về loài thỏ, nhưng dù thế nào đi nữa, Cây Phỉ cũng sống lâu hơn thế. Chú sống khá tươm qua mấy mùa hè - như họ vẫn nói trong thế giới của họ - và học được nhiều về những thay đổi của rừng núi từ mùa xuân qua mùa đông rồi lại mùa xuân. Chú chứng kiến nhiều lứa thỏ ra đời hơn là chú có thể nhớ được. Và thỉnh thoảng, khi họ kể chuyện cổ tích, vào những buổi tối vui vẻ bên gốc sồi thì chú cũng không thể nhớ rõ ràng rằng đó là những câu chuyện về mình hay về một nhân vật anh hùng nào đó xa xưa hơn.
Cánh đồng thỏ ngày một thịnh vương và vào thời điểm thích hợp, một cánh đồng mới ra đời ở vùng Thắt lưng, trong đó một nửa là cư dân Watership, một nửa là thành viên Efrafa - một cánh đồng thỏ đúng như Cây Phỉ lần đầu hình dung vào cái đêm khủng khiếp khi chú một mình dũng cảm đến đối mặt với Thống soái Hoắc Hương, cố cứu đồng đội của mình và chống lại tất cả những điều bất thường. Cúc Bạc là Thỏ Thủ lĩnh đầu tiên ở đây, nhưng chú được hai cố vấn là Dâu Tây và Gạc Nai giúp đỡ nên học được nhiều điều hơn chứ không chỉ biết mỗi chuyện đánh dấu các thỏ khác hoặc hơi một tí là ra lệnh Tổng tuần tra. Thạch Trúc đồng ý với đề nghị gửi một số thành viên của Efrafa đến cánh đồng thỏ mới, và đội đầu tiên nằm dưới quyền chỉ huy của không ai khác ngoài Đội trưởng Thủy Dương Mai, có điều bây giờ chú này đã hành động thấu tình đạt lý hơn và làm việc thực sự tốt.
Thống soái Hoắc Hương không bao giờ thấy xuất hiện nữa. Đó là một sự thật hiển nhiên, đúng như lời Cúc Bạc nói, rằng không ai tìm thấy xác hắn vì thế rất có thể, sau tất cả những chuyện xảy ra, tên thỏ khác thường này lang bạt kỳ hồ, sống cuộc đời ác liệt ở nơi nào đó, thách đố kẻ thù với những mưu mô của hắn. Kehaar trong một lần được yêu cầu xem liệu chú có thể đi tìm kiếm Hoắc Hương trong những chuyến bay qua vùng núi không thì chỉ đơn giản mà rằng, "Con thỏ khốn kiếp ấy, tôi khun muốn nhìn thấy ló, tôi khun muốn gặp ló." Rồi nhiều tháng trôi qua, không một ai ở Watership Down biết hoặc đặc biệt quan tâm xem bản thân mình hoặc bạn tình của mình có phải là hậu duệ của Efrafa hay không hoặc giả có mối liên quan nào không. Cây Phỉ lấy làm mừng về chuyện đó. Tuy vậy, có một truyền thuyết ở vùng rừng nói rằng có một chú thỏ to lớn đơn độc, một chú thỏ khổng lồ có thể đánh đuổi những kẻ thù truyền kiếp như chuột và thỉnh thoảng vẫn đi ăn cỏ trên bầu trời. Nếu có bất cứ nguy hiểm nào xuất hiện, chú sẽ quay lại chiến đấu cho những kẻ kính trọng tên chú. Những cô thỏ mẹ bảo bầy con của mình rằng nếu không làm theo những điều chúng được chỉ bảo, Thống soái sẽ lấy mạng chúng - Thống soái ấy chính là người em họ đầu tiên của Thỏ Đen đấy. Và những chuyện như vậy chính là chứng tích để tưởng niệm Hoắc Hương, có lẽ điều này cũng có thể làm Hoắc Hương được mát lòng mát dạ chăng?
Vào một buổi sáng tháng Ba, trời trở gió, lạnh buốt, tôi không thể nói chính xác bao mùa xuân đã trôi qua sau những chuyện trên, Cây Phỉ đang lơ mơ nủ và thức dậy trong hang của mình. Dạo gần đây chú dành nhiều thời gian ở trong hang vì chú cảm thấy lạnh, chú không thể ngửi cũng như chạy tốt như ngày trước. Chú có rnột giấc mơ hỗn độn - hình như là về một trận mưa và một cây cơm cháy nở hoa. Khi thức giấc, chú nhận ra có một thỏ đang lặng lẽ nằm cạnh chú - chắc chắn là một chú thỏ non tìm đến xin bậc tiền bối chỉ giáo. Chú thỏ canh gác ở đường chạy lẽ ra không được để cho chú ta vào mà không hỏi chú trước. Không sao, Cây Phỉ nghĩ. Chú ngẩng đầu lên hỏi, "Muốn nói chuyện với ta ư?"
"Phải, chính vì điều đó mà ta tìm đến." chú thỏ kia trả lời "Ngươi biết ta phải không?"
"Tất nhiên rồi." Cây Phỉ đáp, hy vọng mình có thể nhớ được tên chú kia ngay sau đó. Rồi chú thấy trong bóng tối mờ mờ của cái hang tai chú thỏ lạ kia sáng lên trong một làn ánh sáng bạc mờ nhạt. "Vâng, thưa ngài." chú nói "Vâng, tôi biết ngài."
"Chắc là người đã mệt mỏi rồi," chú thỏ lạ nói tiếp "nhưng ta có thể làm một cái gì đó. Ta đến để hỏi xem ngươi có muốn trở thành một Cốt Cán của ta không. Nếu ngươi sẵn sàng, chúng ta có thể đi ngay bây giờ."
Cả hai đi qua chú thỏ trẻ làm nhiệm vụ canh gác, chú này không hề chú ý đến vị khách. Bên ngoài, mặt trời rực rỡ và mặc dù rất lạnh, vẫn có lác đác vài thỏ đực và thỏ cái ra ngoài ăn cỏ, họ cố tránh luồng gió trong khi gặm nhấm những chiếc lá cỏ mùa xuân mời nhú. Đối với Cây Phỉ, dường như chú không cần đến thân xác mình nữa vì thế chú để nó nằm lại nơi bờ hào, nhưng vẫn dừng lại một chút quan sát những thỏ của mình và cố làm quen với cái cảm giác khác thường rằng sức mạnh và tốc độ đang chảy không ngừng ra khỏi thân xác chú để đến vời cơ thể cường tráng và trí óc lành mạnh của những thỏ ngoài kia.
"Ngươi không phải lo về chúng." bạn đồng hành của chú nói "Chúng sẽ ổn thôi, cả hàng ngàn kẻ như chúng nữa. Nếu ngươi đi tiếp, ta sẽ chỉ cho ngươi điều ta muốn nói." Vị khách nhảy lên lũy đất chỉ bằng một cú nhảy mạnh mẽ. Cây Phỉ làm theo và cùng nhau họ trượt đi, dễ dàng chạy qua khu rừng, nơi những bông anh thảo đầu tiên bắt đầu nở.
HẾT
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Chương 50
Và Cuối Cùng
Vả lại, khi tuyên bố rằng tôi tin chắc sự can thiệp bất công của Trưởng tu viện hầu như không thực sự ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ mà có khi lại còn có lợi bởi vì nó giúp họ hiểu nhau hơn và càng gắn bó với nhau mạnh mẽ hơn, tôi để điều này cho những ai có lòng quan tâm giải quyết...
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Tu viện Northanger của Jane Austen
Đó là một buổi tối đẹp trời, trong sáng vào giữa tháng Mười, sau đó khoảng sáu tuần. Mặc dầu lá vẫn chưa rụng và ánh mặt trời vẫn ấm áp, vẫn có cảm giác về sự trống trải đang lớn dần lên trong khoảng không rộng lớn của núi rừng. Hoa cỏ thưa thớt dần. Đó đây thấp thoáng những bông hoa dại vàng rộm trên thảm cỏ, một cây hoa chuông lá tròn nở muộn và đâu đó vẫn còn chút sắc hoa tím trên những cành nâu khô giòn của cây bách bệnh. Nhưng hầu hết cây cối vẫn đang ra hạt. Dọc theo bìa rừng, một vài cây ông lão dại phô ra như một vạt khói, mùi hương ngòn ngọt của nó hóa thành bộ râu của một ông già. Khúc hát rỉ rả của lũ côn trùng trở nên thưa thớt và ngắt quãng hơn. Những luống cỏ dài, từng tươi tốt như rừng vào mùa hè giờ gần như tàn lụi hết, chỉ còn những con ong hối hả hoặc con nhện uể oải là còn ở lại trong số vạn vật của tháng Tám. Lũ muỗi mắt vẫn bay lượn trong bầu không gian tươi sáng, nhưng bị lũ chim én lao xuống đớp gọn rồi bay đi; và thay cho tiếng kêu khiếp hãi của chúng trên bầu trời là tiếng ríu rít của một con chim cổ đỏ đậu trên ngọn cây suốt. Những cánh đồng dưới chân núi đều đã gặt hết. Một trong số đó vừa được cày và những đường cày thẳng tắp, sắc cạnh đón nhận làn ánh sáng mờ rnờ dễ nhận thấy từ dốc núi bên trên hắt xuống. Bầu trời gần như trống rỗng và trong vắt như nước. Vào tháng Bảy da trời vẫn xanh thắm, đặc như kem và dường như sà thấp ngay bên trên những ngọn cây xanh, những giờ đây cái màu xanh ấy nằm tít trên cao và ngày một hiếm hoi hơn, mặt trời trượt nhanh hơn về phía Tây và một khi đã ở đó, nó chìm xuống chậm chạp, to lớn, ngái ngủ, đỏ tía như quả tầm xuân trong bụi thạch nam, báo hiệu trước sẽ có sương giá. Khi ngọn gió tươi mát thổi đến từ hướng Nam, những chiếc lá sồi vàng rộm, đỏ tía cọ vào nhau làm vang lên những âm thanh giòn giã, dễ nhận ra hơn cả tiếng nước chảy những ngày trước đó. Đó là thời điểm của những chuyến khởi hành lặng lẽ, của sự sàng lọc ra những kẻ không đủ sức chống chọi lại mùa đông giá lạnh.
Nhiều người nói rằng họ thích mùa đông, nhưng thực ra cái mà họ thích là cảm giác mình có thể chống lại mùa đông lạnh giá ấy. Với họ, thức ăn trong mùa đông không thành vấn đề. Họ có bếp lửa và quần áo ấm. Mùa đông không thể làm hại họ và vì thế chỉ làm tăng thêm cảm nhận của họ về sự khôn ngoan và an toàn. Với chim chóc, muông thú và cả những người nghèo nữa, mùa đông là cả một vấn đề. Loài thỏ, giống như đa số các loài thú hoang khác, phải chịu đựng sự khắc nghiệt của mùa đông. Tất nhiên là chúng còn may mắn hơn một số loài, bởi vì thức ăn của chúng gần như bao giờ cũng có. Nhưng khi tuyết phủ trên mặt đất, chúng phải nằm lì dưới hang suốt hàng ngày trời nối tiếp nhau, chỉ ăn bằng cách nhai lại. Chúng lại còn phải đối mặt với bệnh tật nhiều hơn trong mùa đông và cái lạnh làm giảm bớt sức sống của chúng. Tuy nhiên, những cái hang thỏ có thể khá tiện lợi và ấm cúng, đặc biệt là khi đông đúc. Mùa đông là mùa kết đôi sôi nổi hơn so với cuối hè và mùa thu; thời gian sinh sản tuyệt vời nhất cho thỏ cái bắt đầu từ tháng Hai. Đó là những ngày tươi đẹp khi việc đi kiếm ăn trên mặt đất vẫn đầy thú vị. Với những kẻ thích phiêu lưu, những cuộc chinh phạt vườn rau vẫn có sức mê hoặc kỳ lạ. Và dưới lòng đất, những câu chuyện vẫn tiếp tục được ôn lại, những trò chơi vẫn diễn ra: trò đá bốp và những trò chơi khác. Với bọn thỏ, mùa đông vẫn chẳng khác gì như với những người trong độ tuổi trung niên - khó nhọc đấy nhưng có thể chịu được nếu biết cùng nhau xoay xở và không phải lúc nào cũng không có sự đền bù.
Ở mặt phía Tây cánh rừng sồi, trong ánh nắng buổi chiều tà, Cây Phỉ và Thứ Năm đang ngồi với Nhựa Ruồi, Xám Bạc và Cúc Bạc. Đám tàn quân Efrafa được phép gia nhập cánh đồng thỏ và sau những ngày đầu dao động, khi chúng bị soi xét dưới những cái nhìn không thiện cảm và đầy nghi hoặc, thì nay tất cả đã hòa nhập rất tốt, phần lớn là nhờ Cây Phỉ đã nhất quyết rằng chúng nên như thế.
Kể từ sau cái đêm bị vây hãm trong hang, Thứ Năm thường dành nhiều thời gian ở một mình, thậm chí cả khi ở trong Tổ Ong hoặc vào bữa sáng và bữa tối, chú ta vẫn thường im lặng, bận tâm vào một điều gì đó. Không ai cảm thấy khó chịu về điều này. "Cậu ấy nhìn bạn một cách thân thiện, dễ thương," nói theo lời Hoa Chuông - vì mỗi người, theo cách riêng của mình, đều nhận ra rằng Thứ Năm giờ đây đang bị chi phối hơn bao giờ hết, dù chú ta có thực sự như vậy không, bởi sự rung động của cái thế giới đầy bí ẩn mà chú từng có lần thổ lộ với Cây Phỉ vào những ngày cuối tháng sáu khi họ ở cùng nhau dưới chân núi. Chính Tóc Giả đã nói - một buổi tối khi Thứ Năm không có mặt trong Tổ Ong vào giờ kể chuyện - rằng Thứ Năm là người có công hơn chú trong cái đêm chiến thắng bọn Efrafa. Nhưng với cô thỏ của mình - Vilthuril - Thứ Năm thì hết lòng hết dạ, trong khi đó cô nàng đã dần dần hiểu chú sâu sắc không kém gì Cây Phỉ.
Ngay phía ngoài vạt rừng sồi, đàn con của Sương Mai gồm bốn thỏ con đang nô đùa trên bãi cỏ. Chúng mới được mang lên mặt đất khoảng một tuần trước. Nếu Sương Mai đẻ lứa thứ hai vào thời gian này thì cô thỏ sẽ để cho lứa đầu tự chăm sóc. Tuy vậy, cô vẫn lảng vảng quanh đàn con, quan sát chúng chơi đùa và thỉnh thoảng lại cho con khỏe nhất một cái bạt tai, cảnh cáo nó không được bắt nạt những con khác.
"Đàn thỏ này thật khỏe mạnh, anh thấy không." Nhựa Ruồi nói "Tôi hy vọng chúng ta sẽ có thêm nhiều lứa như thế nữa."
"Chúng ta chẳng thể hy vọng có thêm nhiều lứa nữa cho đến cuối mùa đông," Cây Phỉ nói "mặc dầu tôi dám nói là sẽ có thêm một vài lứa nữa."
"Với tôi, dường như chúng ta có thể chờ đợi bất cứ điều gì." Nhựa Ruồi nói "Ba lứa đẻ trong mùa thu - anh đã nghe thấy điều gì như thế bao giờ chưa? Thần Mặt trời đâu có muốn lũ thỏ nhân giống vào giữa mùa hè."
"Tôi không biết với Thanh Nhàn thì thế nào." Cây Phỉ nói tiếp "Cô ấy là thỏ nuôi trong chuồng, theo lẽ tự nhiên thì cô ấy có thể đẻ bất cứ lúc nào; tôi chỉ biết thế thôi. Nhưng tôi dám chắc là Sương Mai và Vilthuril bắt đầu mang thai vào giữa mùa hè bởi vì họ không có cuộc sống tự nhiên ở Efrafa. Vì thế họ mới là hai người duy nhất đã có con cho đến nay."
"Thần Mặt trời không bao giờ muốn chúng ta đánh nhau vào giữa mùa hè, nếu chuyện có đến nước ấy." Xám Bạc nói "Tất cả mọi thứ đã diễn ra đều phi tự nhiên - đánh nhau, đẻ con - và tất cả đều vì Hoắc Hương. Nếu hắn không phải là kẻ bất bình thường thì còn ai vào đây nữa?"
"Tóc Giả đã đúng khi anh ấy nói rằng hắn không giống một con thỏ chút nào." Nhựa Ruồi nói "Hắn là con vật hiếu chiến - dữ dội như một con chuột hay con chó. Hắn đánh nhau bởi vì hắn cảm thấy an toàn trong khi đánh nhau hơn là khi bỏ chạy. Hắn can đảm cùng mình đấy. Nhưng điều này thì không bất thường đâu và đó là lý do tại sao hắn có cái kết cục ấy. Hắn đã cố gắng làm một điều mà Thần Mặt trời không muốn bọn thỏ chúng ta làm. Tôi tin rằng hắn sẽ săn mồi chả khác gì kẻ thù nếu có thể."
"Các anh biết đấy, Hoắc Hương chưa chết." Cúc Bạc xen vào.
Những chú khác im lặng.
"Hắn chưa ngừng chạy." Cúc Bạc nói giọng tha thiết "Các anh có nhìn thấy xác hắn không? Không. Có bất cứ ai nhìn thấy không? Không. Chẳng gì có thể giết được hắn. Hắn làm cho bọn thỏ lớn hơn trước đó - dũng cảm hơn, khôn ngoan hơn, thiện chiến hơn. Tôi biết chúng tôi đã phải trả giá cho điều đó. Một số người mất mạng. Nhưng cũng xứng đáng thôi, để cảm thấy mình là người của Efrafa. Lần đầu tiên trong đời, bọn thỏ không còn là một bầy nhốn nháo, lang thang không nơi ở cố định. Kẻ thù sợ chúng tôi. Và tất cả là nhờ Hoắc Hương - chính hắn chứ không phải ai khác. Chúng tôi không đủ giỏi giang đối với Thống soái. Do vậy, Hoắc Hương sẽ bắt đầu một cánh đồng thỏ ở nơi khác. Nhưng không một sĩ quan nào ở Efrafa có thể quên được hắn."
"Được, bây giờ tôi sẽ kể cho anh biết một điều khác." Xám Bạc bắt đầu. Nhưng Cây Phỉ đã cắt ngang.
"Đừng bao giờ nói là mình không đủ giỏi giang." chú nói "Anh đã làm cho hắn tất cả mọi việc mà một thỏ có thể làm và còn nhiều hơn thế nữa. Có nhiều cái mà chúng tôi học hỏi được từ anh đấy! Còn về Efrafa, tôi nghe nói mọi chuyện đều tốt dưới sự chỉ huy của Thạch Trúc, mặc dầu có một số việc không giống như trước đây mọi người đã quen. Và nghe đây, vào mùa xuân tới, nếu tôi không nhầm, chúng ta sẽ có thêm nhiều thỏ ở đây nên cánh đồng này sẽ trở nên chật hẹp. Tôi sẽ khuyến khích lớp trẻ dựng lên một cánh đồng thỏ mới ở giữa đây và Efrafa, và tôi cho rằng anh sẽ là người tìm đến Thạch Trúc hỏi xem anh ta có sẵn lòng gửi một số thành viên đến chỗ ở mới không. Anh sẽ là người thích hợp để bắt đầu cái kế hoạch ấy."
"Không quá khó sắp xếp chứ?" Nhựa Ruổi hỏi.
"Không khó khi Kehaar đến." Cây Phỉ nói khi cả bọn bắt đầu nhẹ nhàng nhảy lại chỗ những cái hang ở góc Đông Bắc của rừng sồi. "Anh ấy sẽ trở lại một ngày nào đó khi những cơn bão bắt đầu ở vùng Nước Lớn xa xôi của anh ấy. Kehaar có thể mang thông điệp đến cho Thạch Trúc cũng dễ dàng như anh chạy đến chỗ cái cây sắt và quay lại vậy."
"Thề có Thần Mặt trời trên đám cây rừng. tôi biết ai là người sung sướng khi gặp lại anh ấy!" Xám Bạc nói "Một người không ở quá xa đây."
Họ đã đến đầu Đông khu rừng và ở đây, trên một bãi đất rộng vẫn còn vương nắng chiều, một nhóm những chàng thở - lớn hơn đàn con của Sương Mai một chút - đang ngồi trong những búi cỏ dài lắng nghe một chú thỏ kỳ cựu, to lớn, tai thõng, có một vết sẹo dài từ mũi đến hông - thì còn ai vào đây nữa ngoài Tóc Giả, Đội trưởng Cốt Cán tính tình dễ chịu bậc nhất. Đó là lũ con của Thanh Nhàn và trông chúng rất đáng yêu.
"Ồ không, không, không, không." Tóc Giả đang nói "Ồ, cánh của ta, mỏ của ta, không làm được! Cậu - tên cậu là gì, Cỏ Lưỡi Mèo à, nhìn đây ta là con mèo và ta nhìn thấy cậu ở cuối khu vườn của ta, đang nhá rau diếp. Thế ta sẽ làm gì nào? Ta sẽ đi đến giữa lối đi mà vẫy đuôi ư? Có phải ta làm thế này không?"
"Ngài làm ơn đi mà, cháu còn chưa bao giờ thấy con mèo mà." chú thỏ con nói.
"À, ra là cậu chưa thấy." viên Đội trưởng hào hiệp thừa nhận "Phải, mèo là giống vật kinh khủng với cái đuôi dài. Trên mình có phủ lông và nó có hàng ria mép dựng đứng, khi đánh nhau nó phát ra những tiếng gừ gừ dữ dội và khủng khiếp lắm đấy. Nó khôn ngoan phải biết, đã rõ chưa?"
"Vâng thưa ngài," chú thỏ con trả lời. Một lúc sau chú lễ phép hỏi, "Thế... có phải ngài mất cái đuôi không ạ?"
"Ngài sẽ kể cho chúng cháu nghe cuộc chiến trong cơn bão chứ ạ?" Một chú thỏ khác hỏi "Và cái cống nước nữa?"
"Được nhưng để sau đã," người huấn luyện trả lời, giọng làm ra vẻ nghiêm khắc. "Bây giờ thì nhìn đây, ta sẽ là một con mèo, được chứ? Ta ngủ trong ánh nắng, được chứ? Và các cậu đi ngang qua ta, được chư? Bây giờ thì…"
"Các anh thấy đấy, bọn trẻ trêu ghẹo anh ấy," Xám Bạc nói "nhưng chúng sẽ làm tất cả vì anh ấy."
Nhựa Ruồi và Cỏ Bạc đi xuống hang, chỉ còn Xám Bạc và Cây Phỉ vẫn đi trên mặt đất, một lần nữa, dưới ánh mặt trời chiều đông.
"Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều thế," Cây Phỉ đáp "nếu không có Tóc Giả thì hôm ấy con chó sẽ đến quá trễ. Hoắc Hương và người của hắn sẽ không còn ở trên mặt đất nữa. Tất cả bọn chúng khi đó hẳn đã chui xuống đất, kết thúc cái mà chúng đến để làm."
"Anh ấy đánh Hoắc Hương, anh biết không." Xám Bạc kể "Anh ấy đánh hắn trước khi con chó chạy đến. Đó là điều tôi định nói vào lúc này, nhưng đó cũng là một việc mà tôi không làm nổi, tôi cho là thế."
"Tôi tự hỏi mọi người đang làm gì với cái hang trú đông ở dưới chân đồi." Cây Phỉ tiếp tục "Chúng ta sẽ cần nó khi thời tiết khắc nghiệt hơn. Cái lỗ trên trần ở Tổ Ong không giúp được gì cả. Nó sẽ đóng lại tự nhiên vào một ngày nào đó, tôi nghĩ thế, trong khi ấy thì nó là một mối phiền phức lớn!"
"Dù sao thì những tay đào hang cũng đã tới." Xám Bạc nói.
Nồi Đất và Hoa Chuông đi đến bìa rừng cùng vời ba, bốn cô thỏ.
"A ha ha, Thủ lĩnh Cây Phỉ." Hoa Chuông kêu lên như hát "Cái hang ấm cúng nhất, thành quả việc đào đất, giết khối tên giun đất. Và khi tuyết rơi, chúng ta sẽ chui xuống..."
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
"Vậy là chúng tôi sẽ nợ các anh rất nhiều." Cây Phỉ nói "Tôi muốn nói thế đấy. Những cái lỗ được ngụy trang kỹ chứ?"
"Giống hệt như ở Efrafa, tôi nghĩ vậy." Hoa Chuông nói "Lẽ ra tôi nên mang một cái theo để cho anh thấy. Anh không nhìn thấy gì, phải không nào? Ồ, không các anh đây rồi. Tôi nói là hãy nhìn anh bạn già Tóc Giả với lũ trẻ đằng kia kìa. Các anh biết không, nếu bây giờ anh ấy quay về Efrafa thì chúng sẽ không biết đóng dấu cho anh ấy vào chỗ nào đâu, phải không? Anh ấy có dấu ở tất cả mọi chỗ rồi còn gì."
"Thủ lĩnh Cây Phỉ, anh có đến mạn phía Tây cánh rừng với chúng tôi không?" Nồi Đất hỏi "Chúng ta đến sớm để tận hưởng một chút ánh sáng trước khi trời tối hẳn."
"Được thôi." Cây Phỉ trả lời vẻ đôn hậu "Chúng tôi vừa đi khỏi đấy, tôi và Xám Bạc, nhưng tôi không ngại quay lại đấy lần nữa."
"Hãy đi đến cái hố nhỏ mà chúng ta đã tìm thấy Kehaar vào buổi sáng hôm ấy." Xám Bạc nói "Nó nằm ngoài luồng gió. Anh có nhớ là Kehaar đã nguyền rủa chúng ta và cố mổ vào người chúng ta không?"
"Và những con giun mà ta đã mang đến cho anh ấy nữa chứ?" Hoa Chuông nói tiếp. "Đừng bao giờ quên."
Khi cả bọn đến gần cái hố, họ có thể nghe mà biết rằng cái hố không bỏ không. Rõ ràng có một vài thỏ khác có cùng một ý nghĩ với họ.
"Để coi chúng ta có thể đến gần được thế nào trước khi bị họ phát hiện ra nhé." Xám Bạc nói "Đúng kiểu của Thạch Trúc - đi nào."
Họ lặng lẽ đi đến gần, theo chiều gió từ hướng Bắc thổi tới. Ghé mắt nhìn qua miệng hố họ thấy Vilthuril và bốn đứa con của cô đang nằm sưởi nắng. Mẹ chúng đang kể cho bầy con nghe một câu chuyện.
"Thế là sau khi họ bơi qua sông," giọng Vilthuril vang lên, El-ahrairah dẫn người của mình đi trong đêm tối đến một vùng đất hiu quạnh hoang vu. Một số người đâm sợ, nhưng ông biết rõ đường đi nước bước và sáng sớm hôm sau đã dẫn họ an toàn đến những cánh đồng xanh tươi, tuyệt đẹp mọc lên loại cỏ mềm và ngọt. Ở đây, họ tìm thấy một cánh đồng thỏ, một cánh đồng thỏ bị phù phép. Tất cả thỏ ở đây đều chịu một lời nguyền độc ác. Họ quấn những cái vòng sáng loáng quanh cổ, hát như chim và một số có thể bay được. Nhưng dù trông họ có đẹp đẽ đến mấy, trái tim họ cũng đen tối và hóa tharn, Trong khi ấy, người của El-ahrairah trầm trồ reo lên, "Ôi coi kìa, đây là những thỏ tuyệt vời của Hoàng tử Cầu Vồng. Trông họ chẳng khác gì những ông hoàng. Chúng ta sẽ sống với họ và cũng trở thành những ông hoàng không kém cạnh gì."
Vilthuril ngẩng lên thấy những người mới đến. Cô nàng dừng lại một chút rồi tiếp tục.
"Nhưng Thần Mặt trời đã hiện lên báo mộng cho Giỏ Cua trong một giấc mơ, nói cho ông này biết rằng cánh đồng thỏ đã bị phù phép. Thế là ông bèn đào một đường đi trong lòng đất tìm xem pháp thuật được cất giấu ở đâu. Ông đào rất sâu, cuộc tìm kiếm hết sức khó khăn, nhưng cuối cùng cũng tìm thấy pháp thuật đen tối và lôi nó ra. Thế là tất cả chạy trốn khỏi lời nguyền, nhưng nó lại hóa thành một con chuột cực lớn và bay vào người El-ahrairah. Thế rồi, El-ahrairah đánh nhau với con chuột, phóng lên lao xuống rất ngoạn mục và cuối cùng, ông túm được nó, gí nó bẹp rúm dưới chân mình, rồi nó biến thành một con chim trắng rất lớn, nói chuyện với ông và cầu phúc cho ông."
"Hình như tôi biết câu chuyện này," Cây Phỉ nói "nhưng lại không nhớ đã nghe được ở đâu."
Hoa Chuông ngồi thẳng dậy, gãi gãi cổ bằng cái chân sau. Đám thỏ con quay lại khi thấy bị quấy rầy và trong giây lát chúng nhảy cả lên khỏi cái hổ từ tứ phía, miệng kêu ré lên, "Thủ lĩnh Cây Phỉ! Thủ lĩnh Cây Phỉ!" và tới tấp nhảy đến chỗ Cây Phỉ.
"Này, chờ chút." Cây Phỉ lấy chân trước quạt yêu mấy cái. "Ta không đến đây để tham gia đánh nhau với sắp nhỏ hỗn láo tụi bây đâu. Nghe hết câu chuyện đã nào."
"Nhưng đằng kia có một người đàn ông cưỡi ngựa đi tới, thưa Thủ lĩnh Cây Phỉ." một cậu thỏ con nói "Chúng ta có nên chạy trốn vào trong rừng không?"
"Sao cháu lại nói thế?" Cây Phỉ hỏi "Sao ta chẳng nghe thấy gì hết?"
"Cả tôi cũng không. Xám Bạc nói sau khi dỏng cả hai tai lên nghe.
Cậu thỏ con tỏ vẻ bối rối. "Cháu cũng không biết nữa, Thủ lĩnh Cây Phỉ," cậu nói "nhưng cháu chắc là mình không nhầm đâu."
Cả bọn chờ một lúc, trong khi vầng dương màu đỏ đang từ từ chìm xuống. Cuối cùng, khi Vilthuril toan kể tiếp câu chuyện thì họ nghe thấy tiếng vó ngựa nện ầm ầm trên mặt đất và một người cưỡi ngựa hiện ra ở phía Tây cho ngựa chạy nước kiệu nhỏ nhàn tản theo con đường hướng về phía vùng núi Cannon Heath.
"Ông ta không quấy rầy chúng ta đâu." Xám Bạc nói "Không cần phải bỏ chạy, ông ta chỉ đi qua thôi. Dù vậy, cháu là một chú thỏ ngộ thật đấy anh bạn trẻ Threar ạ, cháu có thể nghe thấy tiếng ông ta từ khoảng cách xa như vậy."
"Nó bao giờ cũng thế. Vilthuril nói "Một hôm nó bảo tôi con sông trông như thế nào và còn nói nó nhìn thấy trong một giấc mơ. Các anh biết đấy, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Một điều chỉ có thể trông đợi từ dòng máu của Thứ Năm."
"Dòng máu của Thứ Năm?" Cây Phỉ kêu lên "Được rồi, chừng nào chúng ta còn có dòng máu đó thì tôi dám nói là tất cả chúng ta rồi sẽ ổn thỏa. Nhưng mọi người thấy không, trời nghe như se lạnh thì phải? Nào hãy đi xuống mà nghe nốt câu chuyện trong một cái hang thoải mái, ấm cúng. Coi kìa, Thứ Năm đang đi tới trên bờ cỏ. Ai sẽ đến gặp cậu ấy trước nào?"
Vài phút sau đã không nhìn thấy chú thỏ nào trên mặt đất nữa. Mặt trời đã chìm xuống dưới đồi Ladle và những vì sao mùa thu bắt đầu tỏa sáng nhấp nháy ở chân trời phía Đông đã đen sẫm lại - chòm sao Thất Tinh, Thiên Hậu và Song Ngư phát ra những tia sáng mờ nhạt còn chòm sao Thiên Mã thì sáng rực. Một ngọn gió nổi lên, chẳng bao lâu sau vô vàn chiếc lá sồi nhuốm vàng thi nhau rụng xuống những cái rãnh, cái hố hoặc bị cuốn theo cơn gió đi xa hàng dặm trên cánh đồng cỏ trống trải mênh mông. Dưới đất, câu chuyện lại được tiếp tục.
PHẦN KẾT
Chàng nhìn ra xa
Vào trong cỗ máy thời gian và
Được rèn luyện bới người dũng cảm nhất: chàng kéo dài lâu;
Nhưng tuổi già xấu như phù thủy đã đánh cắp của chúng tôi,
Và khiến chúng tôi hao mòn hành động...
Mọi điều tốt đẹp đều kết thúc tốt đẹp của Shakespeare
Anh ấy là một phần giấc mơ của tôi nhưng mà tôi cũng là một phần giấc mơ của anh ấy.
Qua chiếc gương soi của Lewis Carroll
"Cuối cùng chuyện gì đã xảy ra?" độc giả đặt câu hỏi, họ là những người đã theo dõi Cây Phỉ và các đồng đội của chú trong tất cả những cuộc phiêu lưu lớn nhỏ và cuối cùng lại trở về cánh đồng thỏ nơi Thứ Năm đã mang họ đến từ những cánh đồng ở Sandleford. ông Lockley khôn ngoan kể cho chúng ta rằng loài thỏ hoang sống trong khoảng hai, ba năm. Ông biết mọi chuyện về loài thỏ, nhưng dù thế nào đi nữa, Cây Phỉ cũng sống lâu hơn thế. Chú sống khá tươm qua mấy mùa hè - như họ vẫn nói trong thế giới của họ - và học được nhiều về những thay đổi của rừng núi từ mùa xuân qua mùa đông rồi lại mùa xuân. Chú chứng kiến nhiều lứa thỏ ra đời hơn là chú có thể nhớ được. Và thỉnh thoảng, khi họ kể chuyện cổ tích, vào những buổi tối vui vẻ bên gốc sồi thì chú cũng không thể nhớ rõ ràng rằng đó là những câu chuyện về mình hay về một nhân vật anh hùng nào đó xa xưa hơn.
Cánh đồng thỏ ngày một thịnh vương và vào thời điểm thích hợp, một cánh đồng mới ra đời ở vùng Thắt lưng, trong đó một nửa là cư dân Watership, một nửa là thành viên Efrafa - một cánh đồng thỏ đúng như Cây Phỉ lần đầu hình dung vào cái đêm khủng khiếp khi chú một mình dũng cảm đến đối mặt với Thống soái Hoắc Hương, cố cứu đồng đội của mình và chống lại tất cả những điều bất thường. Cúc Bạc là Thỏ Thủ lĩnh đầu tiên ở đây, nhưng chú được hai cố vấn là Dâu Tây và Gạc Nai giúp đỡ nên học được nhiều điều hơn chứ không chỉ biết mỗi chuyện đánh dấu các thỏ khác hoặc hơi một tí là ra lệnh Tổng tuần tra. Thạch Trúc đồng ý với đề nghị gửi một số thành viên của Efrafa đến cánh đồng thỏ mới, và đội đầu tiên nằm dưới quyền chỉ huy của không ai khác ngoài Đội trưởng Thủy Dương Mai, có điều bây giờ chú này đã hành động thấu tình đạt lý hơn và làm việc thực sự tốt.
Thống soái Hoắc Hương không bao giờ thấy xuất hiện nữa. Đó là một sự thật hiển nhiên, đúng như lời Cúc Bạc nói, rằng không ai tìm thấy xác hắn vì thế rất có thể, sau tất cả những chuyện xảy ra, tên thỏ khác thường này lang bạt kỳ hồ, sống cuộc đời ác liệt ở nơi nào đó, thách đố kẻ thù với những mưu mô của hắn. Kehaar trong một lần được yêu cầu xem liệu chú có thể đi tìm kiếm Hoắc Hương trong những chuyến bay qua vùng núi không thì chỉ đơn giản mà rằng, "Con thỏ khốn kiếp ấy, tôi khun muốn nhìn thấy ló, tôi khun muốn gặp ló." Rồi nhiều tháng trôi qua, không một ai ở Watership Down biết hoặc đặc biệt quan tâm xem bản thân mình hoặc bạn tình của mình có phải là hậu duệ của Efrafa hay không hoặc giả có mối liên quan nào không. Cây Phỉ lấy làm mừng về chuyện đó. Tuy vậy, có một truyền thuyết ở vùng rừng nói rằng có một chú thỏ to lớn đơn độc, một chú thỏ khổng lồ có thể đánh đuổi những kẻ thù truyền kiếp như chuột và thỉnh thoảng vẫn đi ăn cỏ trên bầu trời. Nếu có bất cứ nguy hiểm nào xuất hiện, chú sẽ quay lại chiến đấu cho những kẻ kính trọng tên chú. Những cô thỏ mẹ bảo bầy con của mình rằng nếu không làm theo những điều chúng được chỉ bảo, Thống soái sẽ lấy mạng chúng - Thống soái ấy chính là người em họ đầu tiên của Thỏ Đen đấy. Và những chuyện như vậy chính là chứng tích để tưởng niệm Hoắc Hương, có lẽ điều này cũng có thể làm Hoắc Hương được mát lòng mát dạ chăng?
Vào một buổi sáng tháng Ba, trời trở gió, lạnh buốt, tôi không thể nói chính xác bao mùa xuân đã trôi qua sau những chuyện trên, Cây Phỉ đang lơ mơ nủ và thức dậy trong hang của mình. Dạo gần đây chú dành nhiều thời gian ở trong hang vì chú cảm thấy lạnh, chú không thể ngửi cũng như chạy tốt như ngày trước. Chú có rnột giấc mơ hỗn độn - hình như là về một trận mưa và một cây cơm cháy nở hoa. Khi thức giấc, chú nhận ra có một thỏ đang lặng lẽ nằm cạnh chú - chắc chắn là một chú thỏ non tìm đến xin bậc tiền bối chỉ giáo. Chú thỏ canh gác ở đường chạy lẽ ra không được để cho chú ta vào mà không hỏi chú trước. Không sao, Cây Phỉ nghĩ. Chú ngẩng đầu lên hỏi, "Muốn nói chuyện với ta ư?"
"Phải, chính vì điều đó mà ta tìm đến." chú thỏ kia trả lời "Ngươi biết ta phải không?"
"Tất nhiên rồi." Cây Phỉ đáp, hy vọng mình có thể nhớ được tên chú kia ngay sau đó. Rồi chú thấy trong bóng tối mờ mờ của cái hang tai chú thỏ lạ kia sáng lên trong một làn ánh sáng bạc mờ nhạt. "Vâng, thưa ngài." chú nói "Vâng, tôi biết ngài."
"Chắc là người đã mệt mỏi rồi," chú thỏ lạ nói tiếp "nhưng ta có thể làm một cái gì đó. Ta đến để hỏi xem ngươi có muốn trở thành một Cốt Cán của ta không. Nếu ngươi sẵn sàng, chúng ta có thể đi ngay bây giờ."
Cả hai đi qua chú thỏ trẻ làm nhiệm vụ canh gác, chú này không hề chú ý đến vị khách. Bên ngoài, mặt trời rực rỡ và mặc dù rất lạnh, vẫn có lác đác vài thỏ đực và thỏ cái ra ngoài ăn cỏ, họ cố tránh luồng gió trong khi gặm nhấm những chiếc lá cỏ mùa xuân mời nhú. Đối với Cây Phỉ, dường như chú không cần đến thân xác mình nữa vì thế chú để nó nằm lại nơi bờ hào, nhưng vẫn dừng lại một chút quan sát những thỏ của mình và cố làm quen với cái cảm giác khác thường rằng sức mạnh và tốc độ đang chảy không ngừng ra khỏi thân xác chú để đến vời cơ thể cường tráng và trí óc lành mạnh của những thỏ ngoài kia.
"Ngươi không phải lo về chúng." bạn đồng hành của chú nói "Chúng sẽ ổn thôi, cả hàng ngàn kẻ như chúng nữa. Nếu ngươi đi tiếp, ta sẽ chỉ cho ngươi điều ta muốn nói." Vị khách nhảy lên lũy đất chỉ bằng một cú nhảy mạnh mẽ. Cây Phỉ làm theo và cùng nhau họ trượt đi, dễ dàng chạy qua khu rừng, nơi những bông anh thảo đầu tiên bắt đầu nở.
HẾT
anh sex
truyện sex hay
phim sex hay
truyện ma kinh dị
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)